Trường Đại học Tôn Đức Thắng – Wikipedia tiếng Việt

Trường Đại học Tôn Đức Thắng là một trường đại học nghiên cứu tại Việt Nam.[1][2][3] Trường trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Trường hoạt động giải trí theo chính sách tự chủ việc thu chi học phí. [ 4 ] Trường hiện có tổng số bốn cơ sở tại ba thành phố khác nhau, trong đó có những cơ sở tại Nha Trang, Bảo Lộc và Cà Mau .
Tiền thân của Trường Đại học Tôn Đức Thắng là Trường Đại học Công nghệ Dân lập Tôn Đức Thắng, được xây dựng theo quyết định hành động 787 / TTg-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng nhà nước. Trường do Liên đoàn lao động Thành phố Hồ Chí Minh sáng lập [ 5 ], góp vốn đầu tư và chỉ huy trực tiếp trải qua Hội đồng quản trị nhà trường do quản trị Liên đoàn Lao động Thành phố đương nhiệm qua những thời kỳ là quản trị .

Với sự tăng trưởng ngày càng nhanh, để Trường có pháp nhân phù hợp bản chất thực của nó (là Trường của tổ chức công đoàn và hoàn toàn không có yếu tố tư nhân), ngày 28 tháng 1 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 18/2003/TTg-QĐ chuyển đổi pháp nhân của Trường thành Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 22 tháng 6 năm 2006, với Quyết định số 146, nhà nước Nước Ta đã được cho phép Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng chuyển sang mô hình trường đại học công lập theo chính sách tự chủ việc thu chi học phí. [ 6 ]Ngày 11 tháng 6 năm 2008, Thủ tướng nhà nước Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 747 / QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Tôn Đức Thắng ( công lập ) và chuyển về thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Nước Ta [ 7 ] .

Xếp hạng đại học[sửa|sửa mã nguồn]

Năm năm nay, TDTU lần tiên phong được vào Bảng xếp hạng những đại học tăng trưởng bền vững và kiên cố nhất quốc tế ( UI GreenMetric ) với vị trí 156. Liên tiếp những năm sau đó, TDTU duy trì ở vị trí Top 200 trong toàn cảnh số lượng những cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng liên tục tăng lên. Đến năm 2021, TDTU được xếp thứ 122 trong tổng số 956 đại học tăng trưởng vững chắc nhất quốc tế được xếp hạng .Về xếp hạng toàn diện và tổng thể, năm 2019, TDTU lần đầu được vào những bảng xếp hạng đại Thượng Hải ( ARWU ) với vị trí Top 1000 quốc tế. Đến nay, TDTU vẫn là đại diện thay mặt duy nhất của Nước Ta nằm trong bảng xếp hạng này với vị trí Top 700 .Năm 2022, TDTU Open trong bảng xếp hạng những đại học tốt nhất quốc tế THE World University rankings với vị trí Top 500 và được xếp thứ 142 Châu Á Thái Bình Dương theo QS Asia University rankings .Các bảng xếp hạng đại học quốc tế khác cũng đã xếp TDTU vào nhóm những đại học tốt nhất quốc tế như US News và World report ( Top 400 ), URAP ( top 500 ) .Tháng 2/2022 TDTU là đại học tiên phong và duy nhất của Nước Ta được xếp Top 100 đại học trẻ ( có tuổi đời dưới 50 năm ) tốt nhất quốc tế theo THE Young University Rankings .

Nghi vấn về một số ít bảng xếp hạng đại học quốc tế[sửa|sửa mã nguồn]

“Nếu chúng ta không có được chất lượng và nền tảng thì không cẩn thận, lại dễ sa vào việc chạy theo tiêu chí của bảng xếp hạng mà không nghĩ đến chất lượng thật phía sau những tiêu chí của xếp hạng đó”, PGS. TS Phan Thanh Bình – Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội – nhận định như vậy khi được hỏi về vấn đề xếp hạng đại học hiện nay. Đóng góp về vấn đề này, TS Lê Văn Út, viên chức của ĐH Tôn Đức Thắng, bày tỏ: “nhiều đơn vị công bố xếp hạng uy tín thực chất là doanh nghiệp nên có yếu tố thương mại, phải đóng rất nhiều tiền để tham gia. Cho nên, về mặt hình thức, xếp hạng là không có kinh phí nhưng bản chất phía sau có mục đích thương mại”.[8]

Theo TS Pham Hiệp, nhà nghiên cứu giáo dục, bảng xếp hạng ảnh hưởng của các trường đại học do THE (THE Impact Ranking) đưa ra mà ĐH Tôn Đức Thắng có tên trong Top 200 có nhiều vấn đề cần làm rõ. Thứ nhất, tương quan của các trường không thực sự đồng đẳng (so sánh khách quan được), do mỗi trường được lựa chọn tiêu chí tốt nhất cho mình. Thứ hai, bảng xếp hạng này là bảng xếp hạng phụ, mới được giới thiệu, mẫu nhỏ (chỉ 400 trường gửi hồ sơ tham gia xếp hạng) và không tính đến các yếu tố học thuật. Đồng tình với những nhận định trên, TS Phạm Ngọc Duy, chuyên ngành Đo lường và Tâm trắc học trong giáo dục từ ĐH Massachusetts Amherst (Mỹ), phân tích: “Theo quan sát của tôi, rất nhiều đại học có tên tuổi và lịch sử lâu đời không tham gia bảng xếp hạng trên. Do vậy, tính đại diện của mẫu hơn 400 trường là một vấn đề. Nhiều khả năng, mẫu nhỏ sẽ không có tính đại diện. Do vậy, kết quả trong top 101-200 cũng không có nhiều ý nghĩa. Nếu số lượng tham gia là 10.000 trường, một trường trong thứ hạng 101-200 cho lần xếp hạng này có thể ở hạng 5.001-6.000 trường hoặc bất cứ đoạn thứ hạng nào khác cho lần xếp hạng sau”.

TS Phạm Hiệp kết luận: “tất nhiên, yếu tố xếp hạng sẽ mang ý nghĩa marketing, vừa là thước đo cho chất lượng của các trường. Các trường nên coi đây là công cụ để nâng cao chất lượng hơn là công cụ truyền thông. Tham gia xếp hạng, các trường sẽ đối sánh được mình với ‘đồng nghiệp’ trên thế giới, là điều rất tốt. Tốt hơn là không làm gì và không đối sánh với ai cả nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa kết quả xếp hạng”.

Ông nói thêm tham gia xếp hạng với những trường đại học trên quốc tế là điều tốt nhưng yên cầu nhiều thời hạn và nguồn lực. Với điều kiện kèm theo hạn chế của những trường đại học Nước Ta lúc bấy giờ, việc tham gia quá nhiều bảng xếp hạng vừa không mang lại giá trị, vừa mất thời hạn, công sức của con người, nhân lực. [ 9 ]
Trường có tổ chức triển khai theo những khối đơn vị chức năng như sau [ 10 ] :

Khối giảng dạy[sửa|sửa mã nguồn]

  • Khoa Công nghệ thông tin
  • Khoa Dược
  • Khoa Điện – Điện tử
  • Khoa Kế toán
  • Khoa Khoa học thể thao
  • Khoa Khoa học ứng dụng
  • Khoa KHXH và Nhân văn
  • Khoa Kỹ thuật công trình
  • Khoa Lao động và Công đoàn
  • Khoa Luật
  • Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động
  • Khoa Mỹ thuật công nghiệp
  • Khoa Ngoại ngữ
  • Khoa Giáo dục quốc tế
  • Khoa Quản trị kinh doanh
  • Khoa Tài chính – Ngân hàng
  • Khoa Toán – Thống kê
  • Cơ sở Cà Mau
  • Cơ sở Bảo Lộc
  • Phân hiệu Nha Trang
  • Trường TCCN Tôn Đức Thắng

Khối đào tạo và giảng dạy, ứng dụng khoa học – kỹ thuật – công nghệ tiên tiến[sửa|sửa mã nguồn]

  • Viện Hợp tác, Nghiên cứu và Đào tạo quốc tế (INCRETI)
  • Viện Khoa học tính toán (INCOS)
  • Viện tiên tiến khoa học vật liệu (AIMaS)
  • Trung tâm An toàn lao động và Công nghệ môi trường (COSENT)
  • Trung tâm Bồi dưỡng văn hóa, tin học và ngoại ngữ (CIFLEET)
  • Trung tâm Chuyên gia Hàn Quốc (KEC)
  • Trung tâm Công nghệ thông tin ứng dụng (CAIT)
  • Trung tâm Đào tạo phát triển xã hội (SDTC)
  • Trung tâm Đào tạo và Phát triển các giải pháp Kinh tế (CATDES)
  • Trung tâm Giáo dục quốc tế (CIS)
  • Trung tâm Giáo dục Quốc phòng an ninh
  • Trung tâm Hợp tác Châu Âu (ECC)
  • Trung tâm Hợp tác doanh nghiệp và Cựu sinh viên (CECA)
  • Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo kinh tế ứng dụng (CAER)
  • Trung tâm Ngôn ngữ sáng tạo (CLC)
  • Trung tâm Phát triển Khoa học quản lý và Công nghệ ứng dụng (ATEM)
  • Trung tâm Tư vấn và Kiểm định xây dựng (TUL)
  • Trung tâm Ứng dụng và Phát triển mỹ thuật công nghiệp (ADA)
  • Trung tâm Việt Nam học và tiếng Việt cho người nước ngoài (VSLC)
  • Công ty TNHH DVKT Tôn Đức Thắng
  • Tạp chí Công nghệ tiên tiến và Tính toán (JAEC)
  • Tạp chí Công nghệ thông tin và Viễn thông (JIT)
  • Quỹ Phát triển khoa học công nghệ (Fostect)

Khối quản trị, hành chính, ship hàng[sửa|sửa mã nguồn]

  • Phòng Công tác học sinh – sinh viên
  • Phòng Đại học
  • Phòng Sau đại học
  • Phòng Điện toán – Máy tính
  • Phòng Quản lý phát triển khoa học công nghệ
  • Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng
  • Phòng Quản trị thiết bị
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Tổ chức hành chính
  • Phòng Thanh tra, Pháp chế và An ninh
  • Ban Quản trị Ký túc xá
  • Ban Truyền thông và quan hệ công chúng
  • Thư viện

Lãnh đạo qua những thời kỳ[sửa|sửa mã nguồn]

quản trị hội đồng trường[sửa|sửa mã nguồn]

  • Hoàng Thị Khánh (1997 – 1998)[11]
  • Đặng Ngọc Tùng (1998 – 2003)
  • Nguyễn Huy Cận (2004 – 2013)
  • Trần Thanh Hải (2013 – 2013)
  • Đặng Ngọc Tùng (2013 – 2016)
  • Bùi Văn Cường (2016 – 2019)
  • Vương Đức Hoàng Quân (2021 – nay)
  • Châu Diệu Ái (1997 – 1998)[11]
  • Bùi Ngọc Thọ (1999 – 2006)
  • Lê Vinh Danh (2006 – 2020)
  • Trần Trọng Đạo (2020 – nay) (Phó Hiệu trưởng phụ trách trường, từ 27/4/2021 là Quyền Hiệu trưởng)

Tuyển sinh đại học[sửa|sửa mã nguồn]

Chương trình giảng dạy trình độ đại học tại cơ sở chính[sửa|sửa mã nguồn]

STT Chương trình đại trà Chương trình chất lượng cao Chương trình quốc tế
1 Thiết kế công nghiệp Ngôn ngữ Anh Quản lý du lịch và giải trí
2 Thiết kế đồ họa Việt Nam học (Chuyên ngành Du lịch và Quản lý du lịch) Quản trị kinh doanh
3 Thiết kế thời trang Quản trị kinh doanh Quản trị nhà hàng khách sạn
4 Thiết kế nội thất Marketing Quản trị kinh doanh quốc tế
5 Ngôn ngữ Anh Quản trị kinh doanh (Chuyên ngành Quản trị Nhà hàng – Khách sạn) Tài chính
6 Ngôn ngữ Trung Quốc Kinh doanh quốc tế Tài chính
7 Ngôn ngữ Trung Quốc (Chuyên ngành Trung – Anh) Tài chính – Ngân hàng Tài chính và kiểm soát
8 xã hội học Kế toán Kế toán
9 Việt Nam học (Chuyên ngành Du lịch và Lữ hành) Luật Khoa học máy tính và công nghệ tin học
10 Việt Nam học (Chuyên ngành Du lịch và Quản lý du lịch) Công nghệ sinh học Kỹ thuật điện – điện tử
11 Việt Nam học (Chuyên ngành Việt ngữ học) Khoa học môi trường
12 Công tác xã hội Khoa học máy tính
13 Quản trị kinh doanh Kỹ thuật phần mềm
14 Marketing Kỹ thuật điện
15 Quản trị kinh doanh (Chuyên ngành Quản trị Nhà hàng – Khách sạn) Kỹ thuật điện tử – viễn thông
16 Kinh doanh quốc tế Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
17 Tài chính – Ngân hàng Kỹ thuật xây dựng
18 Kế toán Thiết Kế Đồ Họa
19 Quan hệ lao động (CN Quản lý Quan hệ lao động; CN Hành vi tổ chức)
20 Luật
21 Công nghệ sinh học
22 Kỹ thuật hóa học
23 Khoa học môi trường
24 Bảo hộ lao động
25 Công nghệ kĩ thuật môi trường
26 Toán ứng dụng
27 Thống kê
28 Khoa học máy tính
29 Truyền thông và mạng máy tính
30 Kỹ thuật phần mềm
31 Kỹ thuật điện
32 Kỹ thuật điện tử – viễn thông
33 Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
34 Kiến trúc
35 Quy hoạch vùng và đô thị
36 Kỹ thuật xây dựng
37 Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
38 Dược học
39 Khoa học thể thao (Chuyên ngành kinh doanh thể thao và tổ chức các sự kiện)
40 Khoa học thể thao (Chuyên ngành Quản trị Golf)

Chương trình giảng dạy trình độ đại học 2 năm đầu tại những cơ sở[sửa|sửa mã nguồn]

STT Cơ sở Bảo Lộc Cơ sở Nha Trang Cơ sở Cà Mau
1 Ngôn ngữ Anh Ngôn ngữ Anh Ngôn ngữ Anh
2 Quản trị kinh doanh (Chuyên ngành Quản trị Nhà hàng – Khách sạn) Marketing Kế toán
3 Luật Quản trị kinh doanh (Chuyên ngành Quản trị Nhà hàng – Khách sạn) Kỹ thuật điện
4 Việt Nam học (Chuyên ngành Du lịch và Quản lý Du lịch) Kế toán Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
5 Kỹ thuật phần mềm Luật

Cơ sở vật chất[sửa|sửa mã nguồn]

Cơ sở vật chất chính là thế mạnh của TDTU. Hiện tại trường đang có thư viện và hệ thống thông tin trên 500 máy tính. Hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành phục vụ các ngành Kỹ thuật Điện – Điện tử, Kỹ thuật công trình, Công nghệ hóa, Công nghệ sinh học, Công nghệ máy tính,… đáp ứng tích cực mục tiêu định hướng thực hành trong đào tạo của nhà trường. Các tiện ích gồm [12]:

Chất lượng giảng dạy[sửa|sửa mã nguồn]

Đội ngũ giảng viên[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2017, trường có tổng số 831 giảng viên, trong đó có 55 giáo sư. [ 13 ]

Các ghi nhận[sửa|sửa mã nguồn]

  1. Chứng nhận đạt chuẩn kiểm định của HCÉRES: Ngày 02/07/2018, Hội đồng cấp cao về kiểm định nghiên cứu và giáo dục Cộng hòa Pháp (HCÉRES) đã có quyết định công nhận đại học đạt chuẩn đại học Cộng hòa Pháp (và cũng là đạt chuẩn Châu Âu) cho Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU). Thời hạn công nhận là 05 năm (từ tháng 7/2018 đến tháng 7/2023).
  2. Xếp hạng 4 sao của Tổ chức QS World University Ratings (Anh Quốc)
  3. Chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2015

Theo thông tin số 1281 / TB-TĐT do hiệu trưởng Lê Vinh Danh báo cáo giải trình ngày 18/7/2018 gửi Tổng Liên đoàn Lao động Nước Ta, trong đó gồm có thống kê học phí một học kỳ năm 2018 của từng ngành học ở hệ đại trà phổ thông và chất lượng cao. Theo đó :

Số tiền học phí của Trường Đại học Tôn Đức Thắng
STT Ngành học Chương trình đại trà Chương trình chất lượng cao
1 Kế toán 9.250.000 18.000.000
2 Tài chính – Ngân hàng 9.250.000 18.000.000
3 Luật 9.250.000 18.000.000
4 Việt Nam học – CN Du lịch và Quản lý du lịch 9.250.000 18.000.000
5 Công nghệ sinh học 11.000.000 18.500.000
6 Kỹ thuật xây dựng 11.000.000 18.500.000
7 Kỹ thuật điện 11.000.000 18.500.000
8 Kỹ thuật điện tử – viễn thông 11.000.000 18.500.000
9 Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa 11.000.000 18.500.000
10 Kỹ thuật phần mềm 11.000.000 18.500.000
11 Khoa học môi trường 11.000.000 18.500.000
12 Khoa học máy tính 11.000.000 19.000.000
13 Ngôn ngữ Anh 9.250.000 22.000.000
14 Kinh doanh quốc tế 9.250.000 22.500.000
15 Quản trị kinh doanh 9.250.000 22.500.000
16 Kiến trúc 11.000.000 Không đào tạo
17 Nhóm ngành thiết kế 11.000.000
18 Các ngành kỹ thuật, công nghệ còn lại 11.000.000
19 Các ngành Luật, Quản lý, Khoa học xã hội còn lại 9.250.000

Nghiên cứu khoa học[sửa|sửa mã nguồn]

  1. Viện khoa học tính toán (INCOS).
  2. Viện hợp tác, nghiên cứu và đào tạo quốc tế (INCRETI).
  3. Viện tiên tiến khoa học vật liệu (AIMaS).
Nhóm nghiên cứu Trưởng nhóm
Nhóm nghiên cứu cơ học tính toán (DCM) TS. Timon Rabczuk, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu toán học và kỹ thuật tính toán (CME, INCOS) TS. Nguyễn Thời Trung, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu tính toán trong xây dựng (DCC, INCOS) TS. Thái Hữu Tài
Nhóm nghiên cứu cơ điện tử tính toán (DCME, INCOS) TS. Nguyễn Sỹ Dũng
Nhóm nghiên cứu vật lý hạt nhân (DNP, AIMaS) TS. Sebastien Incerti
Nhóm nghiên cứu thuật toán và công nghệ phân tích mạng lưới (ATNA) TS. Thái Trà My, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu xương và cơ (BMR) TS. Nguyễn Văn Tuấn,Giáo sư thực thụ
ThS. BS. Hồ Phạm Thục Lan ( Đồng trưởng nhóm )
Nhóm nghiên cứu chất lượng môi trường, khoa học khí quyển và biến đổi khí hậu (EAAC) TS. Nguyễn Đức Hiệp
Nhóm nghiên cứu mô hình hóa thuật toán tiến hóa, mô phỏng và trí thông minh nhân tạo (MERLIN) TS. Ivan Zelinka, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu công nghệ tri thức và hệ thống trong ICT (KSE-ICT) TS. Nguyễn Ngọc Thành, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu kỹ thuật và quản lý môi trường (EEM_RG) TS. Bùi Xuân Thành, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu công nghệ năng lượng xanh (GET) TS. Chiu-Yue Lin, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu tối ưu hóa hệ thống điện (PSO) TS. Võ Ngọc Điều
Nhóm nghiên cứu giải tích ứng dụng (AA-RG) TS. Nguyễn Huy Tuấn, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu hóa tính toán (COMCHEM) TS. Nguyễn Minh Thọ, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu vật lý lý thuyết (TPG, AIMaS) TS. Phạm Thanh Phong
Nhóm nghiên cứu tiếp thị và quản trị quốc tế (IMMR) TS. Kun-Huang Huarng, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu đổi mới và khởi nghiệp (IER) TS. Wen-Hsiang Lai, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu giải tích phi tuyến (NARG) TS. Stojan Radenovic
Nhóm nghiên cứu quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và môi trường (SREM) TS. Bạch Quang Vũ
Nhóm nghiên cứu stress thực vật (PS) TS. Trần Phan Lam Sơn
Nhóm nghiên cứu lý thuyết hạt cơ bản và vũ trụ học (TPPC, AIMaS) TS. Hoàng Ngọc Long, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu thông tin vô tuyến (WiCOM) TS. Miroslav Voznak, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu ô nhiễm không khí (APG) TS. Nguyễn Thị Kim Oanh, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu vật lý nguyên tử phân tử và quang học (AMOG, AIMaS) TS. Lê Văn Hoàng, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu vật lý tính toán (DCP, INCOS) TS. Nguyễn Trương Khang
Nhóm nghiên cứu tính toán và thiết kế Hóa Sinh Nano (CODEBIO) TS. Trịnh Thành Thuật
Nhóm nghiên cứu mô phỏng vật liệu (SMS, AIMaS) TS. Phạm Khắc Hùng, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu trắc lượng thông tin (INFORMETRICS) TS. Lê Văn Út
Nhóm nghiên cứu vật lý vật liệu tính toán (CMP, AIMaS) TS. Võ Văn Hoàng, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu vật liệu gốm và sinh học (CBM, AIMaS) TS. Nguyễn Việt Long
Nhóm nghiên cứu y học thực chứng (EBM) TS. Nguyễn Tiến Huy, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu về phát triển bền vững trong xây dựng (SDCE) TS. Bùi Quốc Bảo
Nhóm nghiên cứu động vật chân khớp và kiểm soát sinh học (AEBC) TS. Rostislav Zemek
Nhóm nghiên cứu ứng dụng laser (LARG) TS. Reza Zamiri
Nhóm nghiên cứu giải tích tính toán (CAG) TS. Farhad Ali, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu ứng dụng mạng xã hội (SocialTech) TS. Chien-Wen Shen
Nhóm nghiên cứu quang điện tử (OPTO) TS. Hsiao-Yi Lee, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu về nguồn năng lượng mới, năng lượng sinh học và sản xuất năng lượng xanh (GPBAE) TS. Gopalakrishnan Kumar
Nhóm nghiên cứu quang học tính toán (CORG, AIMaS) TS. Preecha Yupapin
Nhóm nghiên cứu vật liệu tiên tiến ứng dụng trong năng lượng sạch và môi trường (AFMEE) TS. Phạm Việt Hùng
Nhóm nghiên cứu đại số và hình học (AGR) TS. Trần Tuấn Nam
Nhóm nghiên cứu Khoa học thông tin địa lý (GIS) TS. Bùi Tiến Diệu, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu Y sinh và độc học sinh thái (TBR) TS. Bharath Kumar Velmurugan
Nhóm nghiên cứu polyme dẫn điện trong composite và các ứng dụng (CPCA) TS. Rudolf Kiefer, Giáo sư dự bị
Nhóm nghiên cứu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (SARAT) TS. Ngô Việt Đức
Nhóm nghiên cứu Phát triển môi trường tái tạo và Tổng hợp sản phẩm xanh tân tiến (IGRED) TS. Arivalagan Pugazhendhi
Nhóm nghiên cứu Tối ưu đa mục tiêu có tham số (PMO) TS. Đinh Thế Lục, Giáo sư thực thụ
Nhóm nghiên cứu Phân tích ứng dụng TS. Qian Long Kweh
Nhóm nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tính toán trong xây dựng và kết cấu (ACCSE) TS. Đỗ Nguyễn Văn Vương

tin tức bên lề[sửa|sửa mã nguồn]

Kỷ luật hiệu trưởng[sửa|sửa mã nguồn]

Đoàn quản trị Tổng Liên đoàn Lao động Nước Ta đã đưa ra quyết định hành động tạm đình chỉ với hiệu trưởng Lê Vinh Danh 90 ngày do để xảy ra nhiều vi phạm trong công tác làm việc quản trị nhà trường [ 16 ] [ 17 ]. Ngày 18 tháng 9 năm 2020, Ban thường vụ Đảng uỷ khối đại học, cao đẳng thành phố Hồ Chí Minh quyết định hành động cách tổng thể chức vụ trong Đảng so với ông Lê Vinh Danh. Lý do nêu ra là ông đã trực tiếp ký những văn bản, bộc lộ việc không chấp hành những chỉ huy của Đảng Đoàn, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Nước Ta và có tương quan đến triển khai công tác làm việc tổ chức triển khai, cán bộ của trường, trực tiếp chỉnh sửa và biên tập nội dung biên bản cuộc họp theo hướng thêm những phát biểu phản đối nhằm mục đích làm giảm sút uy tín của Tổng Liên đoàn, duyệt chi nhiều khoản tiền lớn không đúng lao lý. Về mặt công tác làm việc đảng, ban thường vụ Đảng uỷ khối đại học, cao đẳng TP TP HCM cũng đã ra quyết định hành động cách tổng thể chức vụ trong Đảng so với ông Lê Vinh Danh. Bên cạnh đó, tập thể Đảng ủy Trường đại học Tôn Đức Thắng cũng bị cảnh cáo vì đã có những vi phạm trong việc buông lỏng chỉ huy trong triển khai quy định thao tác, chỉ huy, kiểm tra giám sát trong thực thi trách nhiệm chính trị. [ 18 ] [ 19 ]Ngày 21 tháng 10 năm 2020, ông Vũ Anh Đức, ủy viên Đoàn quản trị, Trưởng Ban Tổ chức Tổng LĐLĐ Nước Ta, đã công bố Quyết định số 1507 / QD-TLĐ do quản trị Tổng LĐLĐ Nước Ta Nguyễn Đình Khang. Theo đó, ông Lê Vinh Danh, Hiệu trưởng Trường Đại học Tôn Đức Thắng bị không bổ nhiệm Hiệu trưởng của nhà trường từ ngày 21 thánh 10 năm 2020. [ 20 ]Trong khi đó, theo báo Giáo dục đào tạo Nước Ta thì chỉ huy Tổng Liên Đoàn Lao động có xích míc với trường Đại học Tôn Đức Thắng và cá thể hiệu trưởng Lê Vinh Danh từ trước về việc trích nộp 30 % nguồn chênh lệch thu chi kinh tế tài chính của trường sau thuế về cho tổ chức triển khai này mặc dầu trường là cơ sở tự chủ về kinh tế tài chính. [ 21 ]

Tranh cãi về cách thức xác định tư cách tác giả (affiliation)

[sửa|sửa mã nguồn]

Một số trang báo chí có nêu tình trạng Trường tham gia “mua bán” bài báo trong các công trình khoa học để nhằm mục đích có thứ hạng cao, dẫn đầu thành tích nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Thực tế đây là vấn đề về xác định tư cách tác giả (affiliation), các nhà nghiên cứu không trực tiếp làm việc tại trường Tôn Đức Thắng nhưng ghi tên trường này trong công bố khoa học của mình (thay vì tên nơi làm việc của họ) để đổi lại một khoảng tiền tài trợ (theo hợp đồng kí giữa họ và trường Tôn Đức Thắng). Việc “mua bán” hay cách nói nhẹ nhàng là “hợp tác” nghiên cứu khoa học của Trường gây nên 2 luồng ý kiến trái ngược nhau: một phản đối cách làm của Trường không có đạo đức, một ủng hộ vì không sai so với các bộ quy tắc đạo đức khoa học (nếu đơn vị hiện tại của tác giả không có rằng buộc cụ thể về cách thức ghi tên trường và đơn vi tài trợ) hay vi phạm pháp luật[22].

Cụ thể, báo Thanh Niên nêu quan điểm một số ít giảng viên về việc đại học Tôn Đức Thắng những bài báo, mỗi bài được trả 1500 USD để đăng trong những tạp chí Q1, Q2, Q3 mặc dầu những tác giả không phải là nhân viên cấp dưới thường trực của trường [ 23 ] [ 24 ] .Tiến sĩ Ngô Đức Thế, Đại học Manchester, Vương quốc Anh nêu quan điểm :

Phần phát triển nhờ kiểu “hợp tác” (mà báo chí đang gọi là “mua bán”) là điều chẳng nên ca ngợi hay khuyến khích. Bởi nếu những việc như vậy trở thành trào lưu và không rành mạch, nó có thể sẽ tạo thành tiền lệ dẫn tới những tranh chấp không thể giải quyết (ví dụ như một nhà nghiên cứu tùy tiện điền tên một trường khác vào đăng ký sở hữu trí tuệ, và sản phẩm đó tạo ra lợi nhuận).

Tuy nhiên, trên website của Trường cũng có nhiều thông tin phản bác báo Thanh niên, cho rằng Trường là đại học Nước Ta duy nhất nằm trong nhóm 701 – 800 trường đại học số 1 quốc tế năm 2020 theo bảng xếp hạng ARWU [ 22 ] .Quan điểm của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn thì cho rằng việc làm của Trường không có gì sai [ 25 ] :

Theo tôi thì không có gì sai trái trong việc lập labo / nhóm nghiên cứu ở trường mà nhà khoa học không có biên chế cơ hữu. Xu hướng chung trong khoa học hiện nay là hợp tác nghiên cứu. Hợp tác có thể diễn ra cấp nội bộ trường, cấp quốc gia, và cấp liên quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Trương Thanh Hiếu (đạt giải thưởng Tạ Quang Bửu năm 2020) cho rằng trường Tôn Đức Thắng không chỉ được sắp hạng cao trên các bản sắp hạng nghiên cứu quốc tế chỉ dựa vào số lượng bài báo khoa học mà còn do trường đã phải thực sự nỗ lực ở toàn bộ các phương diện như giảng dạy, danh tiếng học thuật, chất lượng học thuật, thành tích của sinh viên và cựu sinh viên, mức độ quốc tế hóa. TS HIếu quan niệm rằng việc thưởng cho các bài báo là cần thiết để hỗ trợ các nhà khoa học trong thực trạng Việt Nam hiện nay

Để có thể chuyên tâm cho công việc, người làm nghiên cứu cần có thu nhập đủ tốt, ít ra là lo được cho bản thân và gia đình. Việc nhà trường trả lương tương xứng với năng lực và sản phẩm của nhà khoa học là chuyện cần làm và phải làm bên cạnh việc khen thưởng kịp thời.

Nhà vật lý học thực nghiệm nổi tiếng người Pháp, thành viên Ban Giám khảo của Trao Giải Tạ Quang Bửu 2020, GS Pierre Darriulat, còn đi xa hơn khi phê phán những gì diễn ra ở ĐH Tôn Đức Thắng với những từ như ” tham nhũng “, ” gián trá ” hay ” bê bối ” [ 26 ] .

“Khi tôi nói chuyện ở Trường đại học Tôn Đức Thắng là một vụ bê bối, tôi không có ý nhằm vào các nhà khoa học Việt Nam. Tôi nhắm vào việc Trường đại học Tôn Đức Thắng trả tiền cho các nhà khoa học nước ngoài để ghi địa chỉ của trường trong các bài báo của họ”.

Giáo sư Phan Thành Nam ( đạt phần thưởng Hội Toán học Châu Âu năm 2020, GS đại học Ludwig Maximilian Munich, CHLB Đức ) cho rằng nền tảng của yếu tố là nhà nghiên cứu và điều tra không được trả lương xứng danh bởi những đại học truyền thống cuội nguồn [ 27 ] .

Việc nhà khoa học phải bươn chải kiếm sống là một điểm khác biệt rất lớn giữa Việt Nam so với thế giới. Ở Việt Nam, lương giảng viên căn bản là không đủ sống. Theo tôi, việc các trường ĐH trả lương cho nhà khoa học với giá rẻ mạt chính là hành vi bóc lột chất xám nghiêm trọng. Đây mới là nguồn gốc của vấn đề. Nếu được trả lương xứng đáng, mỗi nhà khoa học sẽ trân trọng nơi làm việc của mình và sẽ có rất ít nhu cầu ký thêm hợp đồng bên ngoài.

Nghi vấn về những ” siêu ” tác giả quốc tế[sửa|sửa mã nguồn]

Trên báo Thanh Niên, tiến sỹ Dương Tú ( Đại học Purdue, Mỹ ) nêu ra thực trạng 1 số ít tác giả ngoại bang lấy tên nhiệm sở là 1 số ít trường ở Nước Ta ( trong đó có Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Duy Tân ) có hồ sơ khoa học đáng nghi vấn. Cụ thể những tác giả như Iskander Tlili ( Đại học Majmaah ở Ả Rập Xê-út ), Shahaboddin Shamshirband ( Đại học Malaya, Malaysia và Đại học Hồi giáo Chalous, Iran ), Kittisak Jermsittiparsert ( Đại học Chulalongkorn, Xứ sở nụ cười Thái Lan ), mỗi tác giả một năm xuất bản hàng trăm bài báo dưới tên trường Tôn Đức Thắng và Duy Tân với đủ mọi lãnh lực vừ khoa học xã hội, toán học, công nghệ thông tin những ngành kỹ thuật cho tới y sinh. Những người này được cho rằng đang ” hút tiền ” từ những đại học non trẻ ở Nước Ta đang có nhu yếu tăng thứ hạng. [ 28 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Đào Tạo