Kinh nguyệt – Wikipedia tiếng Việt

Bài này viết về kinh nguyệt ở loài người. Đối với kinh nguyệt của những động vật hoang dã khác, xem Kinh nguyệt ở thúStar of life2.svg Wikipedia tiếng Việt không bảo đảm và không chịu trách nhiệm về tính pháp lý và độ chính xác của các thông tin có liên quan đến y học và sức khỏe. Đề nghị liên hệ và nhận tư vấn từ các bác sĩ hay các chuyên gia. Khuyến cáo cẩn thận khi sử dụng các thông tin này. Xem chi tiết lại Wikipedia:Phủ nhận y khoa và Wikipedia:Phủ nhận về nội dung.về tính pháp lý và độ đúng mực của những thông tin có tương quan đến y học và sức khỏe thể chất. Khuyến cáo cẩn trọng khi sử dụng những thông tin này

Chu kỳ kinh nguyệt

Kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể phụ nữ dưới sự điều khiển của hệ hormone sinh dục và cần thiết cho sự sinh sản. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt điển hình xảy ra hàng tháng giữa thời kỳ dậy thì và mãn kinh.

Trong chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể phụ nữ trưởng thành về giới tính phóng thích một trứng (đôi khi 2 trứng, có thể dẫn đến hình thành 2 hợp tử và sinh đôi khác trứng) vào giai đoạn phóng noãn (rụng trứng). Trước khi phóng noãn, nội mạc tử cung, bao phủ bề mặt tử cung, được xây dựng theo kiểu đồng bộ hoá. Sau khi phóng noãn, nội mạc này thay đổi để chuẩn bị cho trứng thụ tinh làm tổ và hình thành thai kỳ. Nếu thụ tinh và thai kỳ không xảy ra, tử cung loại bỏ lớp nội mạc và chu kỳ kinh mới bắt đầu. Quá trình loại bỏ nội mạc được gọi là hành kinh và biểu hiện ra bên ngoài là kinh khi phần nội mạc tử cung và các sản phẩm của máu ra khỏi cơ thể qua âm đạo. Mặc dù nó thường được gọi là máu, nhưng thành phần của nó khác với máu tĩnh mạch.

Hành kinh là dấu hiệu người phụ nữ không mang thai. (Tuy nhiên, điều này không chắc chắn vì đôi khi có hiện tượng chảy máu trong giai đoạn sớm của thai kỳ.) Trong tuổi sinh sản, không hành kinh là dấu hiệu đầu tiên nghi vấn một phụ nữ có thể có thai. Trễ kinh là khi giai đoạn hành kinh theo mong đợi đã đến nhưng không xảy ra, và người phụ nữ có thể đã thụ thai.

Hành kinh là hiện tượng kỳ lạ thông thường của tiến trình tự nhiên theo chu kỳ luân hồi xảy ra ở phụ nữ khoẻ mạnh giữa tuổi dậy thì và cuối tuổi sinh sản. Tuổi trung bình của hành kinh lần đầu là 12 tuổi, nhưng hoàn toàn có thể xảy ra bất kỳ khi nào từ 8 đến 16 tuổi. Lần kinh cuối, mãn kinh, thường xảy ra vào giữa độ tuổi 45 và 55. Lệch khỏi mẫu hình này cần được chăm sóc về y khoa. Vô kinh chỉ một quá trình dài mất kinh không do thai kỳ ở phụ nữ trong tuổi sinh sản, thí dụ ở phụ nữ có lượng mỡ khung hình rất thấp, như vận động viên, hoàn toàn có thể bị ngưng hành kinh. Sự hiện hữu của kinh nguyệt không chứng tỏ rụng trứng đã xảy ra, và người phụ nữ không rụng trứng vẫn hoàn toàn có thể có chu kỳ luân hồi kinh nguyệt. Các chu kỳ luân hồi kinh nguyệt không rụng trứng có khuynh hướng diễn ra không đều và biểu lộ độ dài chu kỳ luân hồi xê dịch lớn hơn. Ngoài ra, không hành kinh cũng không chứng tỏ rụng trứng đã không xảy ra, vì những không bình thường về hormone ở phụ nữ không mang thai hoàn toàn có thể ức chế hiện tượng kỳ lạ chảy máu .

Kinh: trải qua, từng qua. Nguyệt: tháng. Việt-Nam Tự-Điển định nghĩa “kinh nguyệt” là “sự thấy tháng” ở phụ nữ.[1]

Kinh nguyệt bình thường kéo dài vài ngày, thường 3 đến 5 ngày, nhưng một số trường hợp 2 đến 7 ngày cũng được xem là bình thường.[2] Chu kỳ kinh nguyệt lý tưởng là 28 ngày kể từ ngày đầu tiên của một chu kỳ có kinh đến ngày đầu tiên của chu kỳ tiếp theo. Chu kỳ kinh nguyệt bình thường ở phụ nữ trưởng thành nằm trong khoảng 21 đến 35 ngày.[3]:p.381 Đối với thiếu nữ thì có sự dao động rộng hơn thường trong khoảng 21 đến 45 ngày.[4] Các biểu hiện kinh nguyệt xuất hiện trong thời gian khi có kinh như đau ngực, sưng, đầy hơi, mụn trứng cá là các molimina tiền kinh nguyệt.[5]

Thể tích trung bình của chất lỏng kinh nguyệt trong một chu kỳ luân hồi hàng tháng là 35 ml với 10 – 80 ml được coi là nổi bật. Chất lỏng kinh nguyệt được gọi đúng chuẩn là dòng kinh nguyệt, mặc dầu nhiều người hay gọi nó là máu kinh. Chất lỏng kinh nguyệt thực tiễn có chứa một chút ít máu, cũng như chất nhầy cổ tử cung, âm đạo và những mô nội mạc cổ tử cung. Chất lỏng kinh nguyệt có màu nâu đỏ, hơi đậm hơn so với máu tĩnh mạch. [ 3 ] : p. 381Nhiều phụ nữ trưởng thành cũng thấy Open máu cục trong khi hành kinh. Các cục này như những cục máu trông giống như mô. Nếu có vướng mắc ( ví dụ như có sẩy thai hay không ? ), thì việc kiểm tra dưới kính hiển vi sẽ xác nhận liệu nó có phải là những mô nội mạc tử cung hay những mô thai ( đã thụ thai ) đã bị thải ra. [ 6 ] Đôi khi máu cục hoặc mô nội mạc tử cung thải ra không phản ánh đúng sẩy thai của phôi trước thời hạn. Một enzyme có tên gọi là plasmin – chứa nội mạc tử cung – có khuynh hướng ức chế máu từ máu đông .

Lượng sắt bị mất trong chất lỏng kinh nguyệt tương đối nhỏ so với hầu hết phụ nữ.[7] Theo một nghiên cứu, phụ nữ tiền mãn kinh thể hiện các triệu chứng thiếu sắt khi nội soi. 86% trong số họ thật sự đã có bệnh đường tiêu hóa và có nguy cơ bị chẩn đoán nhầm đơn giản chỉ vì họ đang có kinh.[8] Chảy máu nhiều xuất hiện hàng tháng có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu.

Kỳ kinh nguyệt tiên phong Open ngay sau khi khởi đầu tăng trưởng dậy thì. Tuổi có kinh thường mở màn khoảng chừng 12 – 13 ( xảy ra sớm hơn ở những bé gái Mỹ gốc Phi so với người da trắng châu Âu ), [ 9 ] [ 10 ] [ 11 ] nhưng thường hoàn toàn có thể Open ở tuổi 9 đến 15. Có kinh sớm hoặc chậm nên được kểm tra ; nhiều nguồn tài liệu cũ hơn cho thấy rằng nên kiểm tra nếu kỳ kinh tiên phong Open trước 10 tuổi hoặc muộn hơn sau 16 tuổi, [ 3 ] : p. 381 [ 12 ] trong khi những tài liệu mới hơn dựa trên nhiều chứng cứ hơn thì cho rằng nên kiểm tra nếu kỳ kinh tiên phong Open trước 9 tuổi, hoặc nếu không có ở tuổi 15, nếu không có sự tăng trưởng của ngực ở tuổi 13, hoặc nếu không có chu kỳ luân hồi trong vòng 3 năm sau khi ngực tăng trưởng. [ 13 ] Mãn kinh là khi năng lực thụ tinh ( sinh sản ) ở phụ nữ giảm, và kinh nguyệt hoàn toàn có thể xảy ra không liên tục trong nhiều năm kể từ kỳ kinh nguyệt sau cuối, khi phụ nữ ngừng kinh nguyệt trọn vẹn và không còn thụ tinh nữa. Định nghĩa của ngành y về thời kỳ mãn kinh là trong một năm mà không có kỳ nào, và thường Open ở lứa tuổi cuối 40 và đầu 50 ở những vương quốc phương Tây. [ 3 ] : p. 381

Cơ chế chu kỳ luân hồi kinh sinh lý[sửa|sửa mã nguồn]

Một chu kỳ luân hồi kinh nguyệt thông thường được chia làm 2 pha, pha nang noãn và pha hoàng thể .

Pha nang noãn[sửa|sửa mã nguồn]

Ngày tiên phong của chu kỳ luân hồi kinh ( Tức là ngày tiên phong ra máu âm đạo ) được xem là ngày 01. Pha hành kinh thường lê dài từ 03 – 05 ngày, quá trình này nội mạc tử cung bong tróc liên tục cho sự sụt giảm của hormone sinh dục, ngày ngừng ra máu sẽ kết thúc pha này, khi đó nội mạc tử cung sẽ mỏng dính nhất và pha thứ 2, tăng trưởng nội mạc khởi đầu .

Phát triển nội mạc :[sửa|sửa mã nguồn]

Sau khi sạch kinh, trục hạ đồi tuyến yên của khung hình sẽ khởi đầu hoạt động giải trí mạnh trở lại, vùng hạ đồi sẽ phóng thích từng đợt GnRH ( Gonadotropin releasing hormone ) GnRH sẽ kích thích thùy trước tuyến yên tiết ra hai hormone là FSH và LH .Dưới công dụng của FSH, những nang noãn ở buồng trứng sẽ tăng trưởng và chế tiết Estrogen ( E2 ), E2 có công dụng :

  • Ức chế ngược sự tiết FSH, làm cho nồng độ FSH thấp dần trong máu, dẫn đến chỉ có một nang noãn “giành” được nhiều FSH nhất mới có thể phát triển cuối cùng thành nang noãn trưởng thành, điều này giúp giới hạn số noãn nang được phóng ra (thường được quen gọi là rụng trứng) vào mỗi chu kỳ.
  • Phát triển nội mạc tử cung, E2 giúp nội mạc dày lên, các mạch máu tăng sinh, ngoài ra còn giúp tổng hợp các thụ thể với Progesterone.

Khi nồng độ E2 đạt một ngưỡng nhất định, nó sẽ kích thích tuyến yên phóng thích một nồng độ rất cao LH vào máu và dẫn sự phóng noãn ( thường vào giữa chu kỳ luân hồi ), đây là dấu mốc kết thúc pha nang noãn, chuyển sang pha hoàng thể .

Sau khi phóng noãn, “tàn dư” của nang noãn vừa được phóng trên buồng trứng co cụm lại, mạch máu nuôi phát triển, lượng cholesterol tăng lên, hình thành một cấu trúc mới được gọi là hoàng thể, cấu trúc này chế tiết E2 và Progesterone (P4) được duy trì nhờ hormone LH hoặc beta-hCG.

Tác dụng của P4 :

  • Ổn định nội mạc tử cung, các mạch máu trở nên xoắn, bám sâu và cung cấp máu hiệu quả hơn, nội mạc trở nên lý tưởng cho sự thụ tinh.
  • Ức chế ngược quá trình chế tiết LH ở tuyến yên và GnRH từ tuyến yên, làm nồng độ LH giảm dần và dẫn đến sự suy giảm của chính P4 do không còn LH duy trì hoàng thể.

Diễn tiến tiếp theo sẽ tùy thuộc vào có thụ tinh hay không, nếu không có hiện tượng kỳ lạ thụ tinh, LH sẽ suy giảm do sự ức chế của nồng độ P4 được tiết ra bởi hoàng thể, điều này dẫn đến sự tiêu hoàng thể, kéo theo sự sụt giảm của E2 và P4, nội mạc tử cung không còn được duy trì bằng E2 và P4 nữa, sự sụp đổ diễn ra, từng mảng của nội mạc sẽ bong tróc ra, quy trình hành kinh và ngày 01 của chu kỳ luân hồi mới sẽ lại khởi đầu .Nếu trường hợp có thụ tinh, LH vẫn sụt giảm do ức chế của Progesterone, nhưng hoàng thể sẽ được duy trì bằng beta-hCG ( human chorionic gonadotropin ) tiết ra bởi hợp bào nuôi của phôi thai ( thường vào ngày 8 – 10 của thụ tinh ), chu kỳ luân hồi kinh nguyệt sẽ bị chặn lại cho đến khi thai kỳ kết thúc và trục hạ đồi tuyến yên hoạt động giải trí trở lại .

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Hỏi Đáp