Khả năng sinh lời là gì? Lý luận về khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn về khả năng sinh lời là gì? Các chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời cũng như cách xác định khả năng sinh lời của doanh nghiệp, hãy tìm hiểu bài viết dưới đây nhé!

Khả năng sinh lời là gì ?

Theo từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2012) khả năng sinh lời (Tiếng Anh: Profitability) là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi. Khả năng sinh lời phản ánh mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận của một doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định. Thông thường, khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ được tính bằng công thức tổng lợi nhuận chia cho tổng tài sản sử dụng, số người lao động hoặc khối lượng tư bản dài hạn. Nói một cách dễ hiểu, khả năng sinh lời là khả năng một doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu vượt quá chi phí của mình. 

Trong doanh nghiệp, khả năng sinh lời còn được xem là kết quả của việc sử dụng tài sản nguồn vốn và các tài sản cơ sở vật chất. Khả năng sinh lời đủ lớn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì vốn để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, đảm bảo hoàn trả được các khoản vay cũng như tăng vốn đầu tư. Ngược lại, nếu khả năng sinh lời của doanh nghiệp không đủ lớn sẽ có thể ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do thiếu các phương tiện và các yếu tố sản xuất kinh doanh và thặng dư sẽ không đủ để duy trì sự cân bằng tài chính trong doanh nghiệp.

Các nhà phân tích cổ phiếu sẽ phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp trước khi quyết định mua hay bán cổ phiếu của doanh nghiệp đó.

kha_nang_sinh_loi_la_gi_luanvan99
Khái niệm khả năng sinh lời là gì?

Xem thêm :

➢ 20 Dạng bài Luận văn Thạc sĩ Tài chính – Ngân hàng tiêu biểu

Phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và hiệu suất cao hoạt động giải trí là gì ?

Hiệu quả hoạt động giải trí được biểu lộ ở khả năng quản trị những ngân sách phát sinh trong quy trình hoạt động giải trí của doanh nghiệp như khả năng giảm

thiểu các chi phí tới mức tối đa mà không ảnh hưởng đến thu nhập và mức độ, tần suất khai thác cần thiết các tài sản để doanh nghiệp tạo ra một đơn vị thu nhập. Do đó, hiệu quả hoạt động là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Với các yếu tố khác không đổi, nếu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cao dẫn đến khả năng sinh lời cũng cao hơn và ngược lại.

Bên cạnh đó, trong một chừng mực nhất định, khả năng sinh lời là thước đo biểu lộ hiệu suất cao hoạt động giải trí doanh nghiệp. Ví dụ : nếu hai doanh nghiệp cùng ngành nghề với quy mô và cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính như nhau với những thuộc tính khác tương đương nhưng doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao hơn thì doanh nghiệp đó có hiệu suất cao hoạt động giải trí tốt hơn .Để cải tổ khả năng sinh lời cho doanh nghiệp, cần nâng cao hiệu suất cao hoạt động giải trí, cắt giảm những ngân sách phát sinh không thiết yếu và khai thác gia tài với tần suất hài hòa và hợp lý .

phan_tich_kha_nang_sinh_loi_luanvan99
Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động là gì?

Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và khả năng giao dịch thanh toán là gì ?

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp cũng là một yếu tố tác động ảnh hưởng đến khả năng thanh toán giao dịch của doanh nghiệp. Trong đó, với những yếu tố khác không đổi, doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thì khả năng lưu chuyển tiền tệ tốt hơn, khả năng giao dịch thanh toán cũng tốt hơn và ngược lại .

Tuy nhiên, không thể cho rằng doanh nghiệp có lợi nhuận cao, khả năng sinh lời trên sổ sách tốt thì khả năng thanh toán cũng tốt. Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhưng phần lớn lợi nhuận lại ở dưới dạng các khoản thu khách hàng trên sổ sách nhưng thực tế vẫn chưa thu được tiền và không đảm bảo khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể đang lạm dụng chính sách tín dụng thương mại, bán chịu quá mức cho các đối tượng khách hàng không đáng tin cậy dẫn đến tình trạng họ không có khả năng chi trả nên có nguy cơ không thu được tiền từ những người này trong tương lai làm phát sinh nợ khó đòi. Vì vậy, doanh nghiệp cũng không nên vì mục đích tạo ra lợi nhuận mà xem nhẹ việc đảm bảo khả năng thanh.

Bên cạnh đó, trong một chừng mực nhất định, khả năng thanh toán cũng có thể tác động gián tiếp tới khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Ví dụ: một doanh nghiệp cần duy trì ngân quỹ ở mức độ nhất định, đảm bảo khả năng thanh toán thì mới có thể mua các yếu tố đầu vào cần thiết phục vụ cho việc sản xuất-kinh doanh từ đó tạo thu nhập ổn định cho doanh nghiệp. Nếu ngân quỹ thiết hụt, hoạt động sản xuất-kinh doanh bị gián đoạn sẽ ảnh hưởng tới thu nhập và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Hơn nữa, trong một số trường hợp, doanh nghiệp phải đánh đổi giữa việc đảm bảo khả năng thanh toán với khả năng sinh lợi. Nếu doanh nghiệp có dự trữ tiền mặt dồi dào thì có thể đảm bảo khả năng thanh toán nhưng nếu mức dự trữ tiền bạc quá cao lại làm giảm khả năng sinh lời vì tiền không được sử dụng để đầu tư thì không thể tạo ra lợi nhuận. Cần duy trì dự trữ tiền mặt và xử lý biến động ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.

phan_tich_kha_nang_sinh_loi_luanvan991
Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và khả năng thanh toán là gì?

Các chỉ tiêu nghiên cứu và phân tích khả năng sinh lời là gì ?

Để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp, chúng ta sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên lệch giá ( ROS )

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (return on sales-viết tắt là ROS) được tính bằng tỷ lệ của lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

Công thức : ROS = doanh thu / lệch giáThông thường, trong công thức này, những nhà nghiên cứu và phân tích sẽ sử dụng doanh thu sau thuế của doanh nghiệp – một chỉ tiêu tổng hợp để phản ánh khả năng sinh lời của hàng loạt hoạt động giải trí doanh nghiệp. Do đó, công thức này sẽ được viết lại như sau :ROS = doanh thu sau thuế / lệch giá .

Thông qua tỷ suất này, ta biết được quy mô lợi nhuận được tạo ra từ mỗi đồng doanh thu thuần. Ví dụ, doanh nghiệp A trong năm 2014 có doanh thu thuần là 100 tỷ VNS, lợi nhuận sau thuế là 20 tỷ VND, vậy ROS= 20 tỷ/100 tỷ= 0,2 hay 20%. tức là với mỗi đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp kiếm được trung bình sẽ tạo ra 0,2 đồng lợi nhuận sau thuế. Nếu hệ số ROS trung bình năm 2014 của ngành là 30% thì hệ số ROS của công ty A đang thấp hơn trung bình ngành, thì công ty A đang bị tụt hậu về khả năng sinh lời và cần cải thiện hệ số này.

Vậy, với lệch giá không đổi, nếu doanh nghiệp quản trị ngân sách tốt thì doanh thu thu được sẽ cao hơn và tỷ suất sinh lời ROS cũng được cải tổ. Trong trường hợp ROS thấp là doanh nghiệp quản trị ngân sách không hiệu suất cao. Dựa vào Báo cáo tác dụng kinh doanh thương mại của doanh nghiệp mà những nhà nghiên cứu hoàn toàn có thể xác lập những mục ngân sách chiếm tỷ trọng lớn và nguyên do dẫn đến tỷ suất ROS thấp từ đó đề ra những giải pháp khắc phục .

Tỷ suất lợi nhuận trên gia tài ( ROA )

chi_tieu_phan_tich_kha_nang_sinh_loi_luanvan99
Các chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời là gì?

Tỷ suất lợi nhuận trên gia tài ( ROA – Return on assets ) là tỷ suất của lợinhuận sau thuế trên tổng tài sản trung bình trong kỳ kinh doanh thương mại nhất định của doanh nghiệp .Công thức : ROA = doanh thu sau thuế / tổng tài sản trung bình .Tổng tài sản trung bình trong một kỳ là trung bình cộng của tổng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ của một doanh nghiệp. Nếu không có đủ số liệu, nhà nghiên cứu và phân tích sử dụng tổng tài sản tại một thời gian nào đó như thời gian cuối kỳ thay có tổng tài sản trung bình .Tỷ suất ROA cho biết quy mô doanh thu sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng được góp vốn đầu tư vào tổng tài sản của doanh nghiệp. Thông qua hoàn toàn có thể thấy thấy được khả năng sinh lợi của những gia tài hoặc tần suất khai thác những gia tài mà doanh nghiệp thực thi .Xét ví dụ : doanh nghiệp A có tổng tài sản đầu năm năm trước là 160 tỷ VNĐ, tổng tài sản cuối kỳ cùng năm là 240 tỷ VNĐ và doanh thu sau thuế là 20 tỷ VND. Vậy ROA = 20 tỷ / [ ( 160 tỷ + 240 tỷ ) / 2 ] = 0,1 hay 10 %, tức là trong năm năm trước, với mỗi đồng vốn góp vốn đầu tư vào gia tài thì doanh nghiệp A tạo ra 0,1 đồng doanh thu sau thuế. Giả sử, nếu ROA trung bình ngành năm trước là 20 %. Như vậy, ROA năm năm trước của doanh nghiệp A thấp hơn mức trung bình của những doanh nghiệp khác cùng ngành này, tức là công ty A chưa khai thác những gia tài của mình một cách hiệu suất cao hoặc tần suất sử dụng gia tài quá thấp không xứng với tiềm năng sinh lợi của gia tài mà doanh nghiệp có hoặc tần suất sử dụng những gia tài quá thấp, không tương ứng với tiềm năng sinh lợi. Tóm lại, tỷ suất ROA càng cao cho thấy khả năng sinh lợi trên tổng tài sản hoặc tần suất khai thác những gia tài của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên, cần đề phòng trường hợp tỷ suất ROA cao không hẳn là vì khai thác gia tài hiệu suất cao mà là vì sự thiếu vắng góp vốn đầu tư vào gia tài, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động giải trí kinh doanh thương mại trong vĩnh viễn .

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE )

Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu ( Return on equity, viết tắt là ROE ) là tỷ suất của doanh thu sau thuế trên vốn chủ sở hữu trung bình trong kỳ của doanh nghiệp .Công thức : ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu trung bình ( VCSH ) .

Trong đó, vốn chủ sở hữu bình quân là trung bình cộng của VCSH đầu kỳ và cuối kỳ của một doanh nghiệp. Nếu không có đủ số liệu, có thể sử dụng VCSH tại một thời điểm nào đó như thời điểm cuối kỳ. Tỷ suất ROE thể hiện quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó cho biết hiệu quả sử dụng VCSH của doanh nghiệp và mức lợi nhuận tương đối mà các cổ đông được hưởng. Có thể nói, ROE là chỉ tiêu được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm và sử dụng làm cơ sở đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp, giúp họ đưa ra quyết định trong hoạt động đầu tư cổ phiếu vào không ty.

Ví dụ : doanh nghiệp A có VCSH đầu năm năm trước là 120 tỷ VND, VCSH cuối năm là 200 tỷ VND, doanh thu sau thuế là 20 tỷ VND. Vậy ROE = 20 tỷ / [ ( 120 tỷ + 200 tỷ ) / 2 ] = 0,125 hay 12,5 %, tức là trong năm năm trước, với mỗi một đồng vốn do chủ sở hữu góp vốn đầu tư, doanh nghiệp đã tạo ra được 0,125 đồng doanh thu sau thuế. Nếu giả sử ROE trung bình ngành năm năm trước là 16 %. Tức là ROE của công ty A năm năm trước thấp hơn mức trung bình ngành. Vậy doanh nghiệp A chưa sử dụng hiệu suất cao vốn chủ sở hữu, những nhà quản cần cần tìm hiểu nguyên do khiến dẫn đến ROE thấp để từ đó kiến thiết xây dựng giải pháp xử lý tương thích .Tỷ suất ROE càng cao cho thấy khả năng sinh lợi trên VCSH của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên, cần đề phòng trường hợp ROE của doanh nghiệp cao không hẳn do khai thác vốn chủ sở hữu hiệu quả mà vì phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay, khiến mất cân đối cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính và hàm chứa rủi ro đáng tiếc cho doanh nghiệp .

Chúng ta đã cùng nhau phân tích khái niệm khả năng sinh lời là gì và các chỉ tiêu được dùng để phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ đó có thể giúp các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư cổ phiếu hay không. Thông qua các chỉ tiêu sinh lời của doanh nghiệp, các nhà quản trị cũng có thể đề ra các biện pháp cải thiện doanh thu. Luận văn 99 hy vọng những kiến thức này sẽ hữu ích cho bạn trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn.

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Đầu Tư