Saddam Hussein – Là gì Wiki

Template:Viên chức
Saddām Hussein ʻAbd al-Majīd al-Tikrīt – còn được viết là Husayn hay Hussain; phát âm như “Sátđam Hutxen”; tiếng Ả Rập صدام حسين عبد المجيد التكريتي  (sinh 28 tháng 4 năm 1937 – 30 tháng 12 năm 2006) là tổng thống Iraq từ năm 1979 cho đến năm 2003, khi Mỹ tấn công Iraq với lý do là Saddam đã “tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt”. Ông đã bị bắt và phải ở tù. Tháng 11 năm 2005 ông bị đem ra tòa án xét xử. Dư luận trong nước Iraq và quốc tế có nhiều người phản đối vì họ cho rằng tòa án không hợp hiến và không tuân thủ các hiệp ước quốc tế. Tuy nhiên, một Tòa án của Iraq (được tổ chức bởi chính phủ mới thân Mỹ) đã kết luận ông có tội “chống lại loài người” vì đã ra lệnh tử hình 148 người Shitte tại thị trấn Dujail phía Bắc Iraq trong thập niên 1980. Lúc 6h05′ ngày 30 tháng 12 năm 2006 (giờ địa phương), ông đã bị thi hành án tử hình bằng cách treo cổ tại Bagdad, Iraq.

Saddam là nhà lãnh đạo để lại nhiều nhìn nhận mâu thuẫn. Truyền thông phương Tây mô tả ông là nhà độc tài tàn nhẫn, trong khi nhiều người Ả Rập và các nước thế giới thứ ba thì xem ông là một chiến sĩ đã dũng cảm chống lại ách cường quyền của Mỹ và phương Tây. Lý do mà Mỹ tấn công Iraq, lật đổ Saddam là vì ông “tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt”, về sau đã được chứng minh là không có thật.

Thời thơ ấu

Saddam Hussein sinh ngày 28/4/1937 trong một mái ấm gia đình nông dân nghèo thuộc làng al-Awja, ngoại ô thành phố Tikrit, là người theo dòng Hồi giáo Sunni. Cha của Saddam Hussein là Madzid – một người nông dân nghèo, cả đời làm ruộng và đã chết trước khi Saddam Hussein chào đời. Cậu bé lớn lên trong mái ấm gia đình người chú ruột tên là Ibrahim al-Hassan .

Sự dạy dỗ của người chú rất nghiêm khắc, cậu bé không được khóc cũng như không được tỏ ra yếu đuối. Saddam Hussein đã trung thành với nhiều tính cách của bộ tộc Beduin đã sinh ra ông: lòng trung thành tuyệt đối, sự chống đối quyết liệt áp lực từ thế giới bên ngoài. Thời niên thiếu nghèo khổ đã dạy cho Saddam Hussein hiểu rằng đời là một cuộc chiến đấu và để tồn tại cần phải đấu tranh. Ngay từ nhỏ, Saddam đã biết cách chế ngự nỗi lo sợ và trở nên rắn rỏi.

Bạn đang đọc: Saddam Hussein – Là gì Wiki

Năm 1947, khi mới 10 tuổi cậu bé đã rời quê nhà lên thành phố Tikrit và ở nhà em trai mẹ mình là Tulfakh. Là người tham gia trào lưu chống thực dân Anh do al-Gailani chỉ huy năm 1941, người cậu đã truyền cho đứa cháu Saddam Hussein nhiều bài học kinh nghiệm về chủ nghĩa dân tộc bản địa và lòng căm thù chính sách thống trị của thực dân đế quốc quốc tế. Năm 1954, Saddam Hussein thi đỗ vào trường al-Karh, một trường nổi tiếng là thành trì của chủ nghĩa dân tộc bản địa và chủ nghĩa toàn Arab .Cuộc cách mạng Ai Cập nổ ra ngày 23/7/1952 đã tác động ảnh hưởng can đảm và mạnh mẽ đến cục diện chính trị ở Iraq. Tổng thống Ai Cập Abdel Nasser trở thành thần tượng của Saddam Hussein và là lý tưởng của những người theo chủ nghĩa dân tộc bản địa toàn Arab. Năm 1957, khi 20 tuổi, Saddam Hussein gia nhập Trụ sở của đảng Baath toàn Arab tại Iraq .

Thời gian cầm quyền

Vào năm 1958, sau khi vương triều phong kiến do Anh hậu thuẫn bị tướng Abdul Qasim lật đổ, theo Nicolas J.S. Davies, CIA đã thuê Saddam Hussein để ám sát vị tổng thống mới. Hussein thất bại và phải trốn sang Lebanon, CIA thuê cho ông ta một nhà ở ở Beirut và sau đó chuyển ông ta tới Cairo thao tác cho cơ quan tình báo Ai Cập [ 1 ] .Không lâu sau khi giữ chức tổng thống vào năm 1979 ở tuổi 42, Saddam Hussein nhanh gọn củng cố quyền hành bằng cách xử tử hàng trăm sĩ quan hạng sang và những chính khách bị nghi thuộc phe chống đối. Saddam Hussein là người Ả Rập theo hệ phái Sunni và đã đưa rất nhiều bà con trong dòng tộc ở Tikrit vào nắm những chức vụ quan trọng trong chính phủ nước nhà. Tại một quốc gia đa sắc tộc, Saddam chủ trương phải trấn áp mạnh tay mọi hành vi chống đối nếu muốn quốc gia được không thay đổi, đặc biệt quan trọng là so với khối người Hồi giáo Shia chiếm hầu hết và khối người Kurd. Ông đã từng tiêu diệt những cuộc thay máu chính quyền và làm mưa làm gió của nhóm dân Kurd ở phía bắc đòi tách khỏi Iraq với sự giúp sức của Iran lúc bấy giờ. Khi con trai ông bị ám sát, ông đã cho quân giết sạch những người dân ở những làng gần đó. Tiêu biểu cho thời kỳ Saddam có cuộc xử bắn 148 dân làng Doujail người Shiite ( năm 1982 ) ; cuộc tiến công người Kurd ở làng Halabja vào năm 1987 khiến hàng trăm người chết [ 2 ]Bên cạnh đó, Saddam đã quốc hữu hóa kỷ nghệ dầu hỏa vốn nằm trong tay những nhà tư bản Âu-Mỹ vào những năm 1970 và trấn áp ngặt nghèo ngân hàng nhà nước nhà nước. Nhờ vào ngân sách thặng dư lớn về dầu hỏa, nhất là sau cuộc khủng hoảng cục bộ đầu năm 1973 ; Saddam đã thực thi nhiều cuộc cải cách xã hội rất thành công xuất sắc, nâng cao đời sồng dân chúng, thiết lập nền giáo dục mọi cấp không tính tiền, cùng khuyến khích giáo dục phụ nữ và đã từng được UNESCO khen thưởng .Sau khi trở thành tổng thống Iraq, Saddam Hussein ngày càng nói nhiều đến sứ mạng đặc biệt quan trọng của Iraq trong quốc tế Arab và ” quốc tế thứ ba “. Tại Hội nghị những nước không link tổ chức triển khai tại La Habana năm 1979, Tổng thống Saddam Hussein đã hứa cho những nước đang tăng trưởng vay gần 4 tỷ USD nợ dài hạn lãi suất vay 0 %, chính do đó Saddam Hussein đã được những người tham gia hội nghị tán dương hết lời .[ [ Tập tin : Saddam rumsfeld.jpg | nhỏ | phải | Saddam Hussein gặp Donald Rumsfeld, đây là tiến trình Hoa Kỳ tương hỗ tích cực cho ông ta để chống lại Iran ] ] Sau khi Iran diễn ra cuộc Cách mạng Hồi Giáo thành công xuất sắc vào ngày 11 tháng 2 năm 1979 đã lật đổ vua Pahlavi do Mỹ dựng lên, Anh-Mỹ vội vã ủng hộ Saddam để lấy thế kềm chế Iran dưới chính thể Cộng Hòa Hồi Giáo. Cũng theo Nicolas J.S. Davies, Saddam đã triển khai một cuộc cuộc chiến tranh chống nước láng giềng Iran. Tình báo quốc phòng Mỹ DIA cung ứng trinh thám vệ tinh để dẫn đường cho vũ khí hóa học mà phương Tây giúp Hussein sản xuất, Donald Rumsfeld và những quan chức Mỹ khác đã nghênh đón Hussein như là liên minh chống lại Iran [ 3 ] .

Năm 1983, chính phủ Hoa Kỳ cử đặc phái viên tới Baghdad, lần đầu tiên trong hơn 16 năm. Trong một nỗ lực của Mỹ để mở rộng quan hệ ngoại giao đầy đủ với Iraq, nước này được Hoa Kỳ xóa khỏi danh sách Nhà nước tài trợ cho khủng bố. Bề ngoài, điều này là do sự cải thiện trong hồ sơ của chế độ Saddam, mặc dù sau đó cựu Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Noel Koch đã nói, “Không ai có bất kỳ nghi ngờ rằng [những người Iraq] vẫn tiếp tục tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố… Lý do thực sự (của Mỹ) là để giúp Iraq thành công trong cuộc chiến chống lại Iran”[4].

Một báo cáo giải trình của Ủy ban Thượng viện Mỹ về Ngân hàng, Nhà ở và Đô thị Kết luận rằng cơ quan chính phủ Mỹ dưới thời tổng thống Ronald Reagan đã liên tục bán vật tư vũ khí sinh học gồm có vi trùng bệnh than cho Iraq, lê dài cho đến tháng 3 năm 1992. quản trị ủy ban Thượng viện, Don Riegle, cho biết : ” Các ngành hành pháp của chính phủ nước nhà của tất cả chúng ta đã phê duyệt 771 giấy phép xuất khẩu khác nhau để bán công nghệ tiên tiến vũ khí cho Iraq. Tôi nghĩ rằng đó là một kỷ lục kinh điển ” [ 5 ]Trong đại chiến Iran-Iraq, Mỹ làm một có một điều nghe có vẻ như kỳ quặc nhưng lại rất hài hòa và hợp lý với những nhà tài phiệt buôn vũ khí : chính Mỹ vừa vũ trang ồ ạt cho Iraq lại ngầm bán vũ khí cho Iran, về sau bị đổ bể thành vụ Bê bối Contra Gate dưới thời Reagan, mục tiêu là dùng tiền bán vũ khí để hỗ trợ vốn cho phiến quân Contra do Mỹ dựng nên để chống chính phủ nước nhà cánh tả ở Nicaragua. Mỹ rất muốn cuộc cuộc chiến tranh Iran – Iraq nhùng nhằng càng lâu càng tốt để có thời cơ bán vũ khí kiếm lời .Saddam chỉ huy khối Ả-rập phản đối Hiệp Ước giữa Israel và Ai Cập tại Trại David năm 1979. Saddam chống Israel và những chủ trương của phương Tây về dầu lửa một cách mãnh liệt. Đó cũng là nguyên khiến Saddam dần mất lòng Mỹ và phương Tây .Năm 1990, Saddam liên tục phát động Chiến tranh vùng Vịnh nhằm mục đích chiếm vương quốc nhỏ bé Kuwait, quốc gia mà Saddam tin rằng đã là một phần của Iraq trước khi bị thực dân Anh chia cắt. Trước khi mạo hiểm, Saddam đã cẩn trọng thăm dò phản ứng của Mỹ qua buổi gặp gỡ khẩn cấp với đại sứ Hoa Kỳ bấy giờ là April Catherine Glaspie trong ngày 25 tháng 7 năm 1990 tại Bagdad. Glaspie vấn đáp mập mờ khiến Saddam tưởng là Mỹ bật đèn xanh, liền xua quân chiếm gọn Kuwait chỉ trong vòng một tuần .Hành động này của Saddam rình rập đe dọa trực tiếp quyền hạn dầu mỏ của phương Tây, ngay lập tức truyền thông online Mỹ và phương Tây đổi khác thái độ. Họ quay sang công kích Saddam là nhà độc tài cần phải diệt trừ. Hoa Kỳ ngay lập tức phát động Chiến dịch Bão táp sa mạc ( Operation Desert Storm ) tiến công quân Iraq. Do sự can thiệp của Hoa Kỳ và những nước, Saddam phải chịu thất bại và rút quân .

Bị Mỹ lật đổ

Năm 2003, chính sách của Saddam sụp đổ khi Hoa Kỳ và những liên minh của họ tiến công Iraq. Nét điển hình nổi bật của đại chiến này là việc Mỹ tạo cớ tiến công vào Iraq : Khi ấy Mỹ công bố rằng Iraq vẫn đang chiếm hữu và tăng trưởng vũ khí diệt trừ hàng loạt ( gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học ), đồng thời có liên hệ với tổ chức triển khai khủng bố al-Qaeda. Tất nhiên Mỹ đã không hề tìm thấy vật chứng cho những cáo buộc này nên không hề thuyết phục Liên Hiệp Quốc, nhưng Tổng thống Mỹ George W. Bush vẫn phát động Chiến tranh xâm lược Iraq dựa trên những cáo buộc mà cơ quan chính phủ Mỹ đưa ra .Các cáo buộc mà Mỹ đưa ra sau này được chứng tỏ là bịa đặt, vì những vũ khí này đã không khi nào được Mỹ tìm thấy tại Iraq sau nhiều năm tìm kiếm ngoài những thùng hóa chất cũ kỹ có từ trước năm 1991. Nhưng khi đó thì mọi việc đã chấm hết : Saddam Hussein đã bị tử hình, còn Iraq thì chìm trong cuộc chiến tranh [ 6 ] .

Bản thân cựu Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell sau khi cuộc chiến tại Iraq xảy ra cũng chính thức lên tiếng thừa nhận về những “bằng chứng” sai sự thật mà Mỹ đưa ra khi trả lời phỏng vấn Tờ báo Le Nouvel Observateur của Pháp: “CIA đã lừa tôi. Nỗi hổ thẹn nhất trong cuộc đời hoạt động ngoại giao của tôi là đã buộc phải nói dối”[7].

Năm năm ngoái, Thủ tướng Anh Tony Blair trong cuộc phỏng vấn với CNN đã thừa nhận những báo cáo giải trình về vũ khí tiêu diệt hàng loạt tại Iraq là sai thực sự. Tuy nhiên ông này tỏ ra không hề hụt hẫng khi đã đem quân lật đổ Saddam. Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực ra là 1 đại chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ nước nhà thân phương Tây để Open cho những công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí đa dạng chủng loại của Iraq. Dù không tìm thấy vũ khí tiêu diệt hàng loạt, cũng không có ai ở Mỹ-Anh phải chịu nghĩa vụ và trách nhiệm hay bị giải quyết và xử lý vì những thông tin sai và vô căn cứ cả, toàn bộ đều ” vô can “. Chỉ có một trong thực tiễn : Chủ quyền Iraq bị xâm phạm, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do cuộc chiến tranh gây ra [ 8 ]

Vụ xét xử và án tử hình

Saddam bị phát hiện trốn trong một nông trại ở Dawr vào tháng 12/2003. Ba năm sau, vào ngày 30/12/2006, Saddam bị xử tử sau một phiên tòa xét xử chớp nhoáng được tổ chức triển khai bởi chính phủ nước nhà mới tại Iraq do Mỹ xây dựng .

Theo lời kể của Alaa Namiq, người đã giúp đỡ Saddam ẩn náu tránh sự truy lùng của quân Mỹ và cũng là cận vệ cuối cùng, thì trong hầm trú ẩn, Saddam đã dành nhiều thời gian để đọc sách và viết, bao gồm cả văn và thơ ca. Saddam cũng từng ghi âm mấy bài phát biểu với nội dung cổ động người dân đứng lên chống Mỹ. Sau này, Namiq được người dân ở Dawr coi như một anh hùng vì việc không ngại hiểm nguy để che chở cho Saddam. Namiq nói: “Saddam biết, rồi sẽ có một ngày ông bị bắt và bị hành quyết. Ông biết tất cả đã mất rồi, ông đã không còn là Tổng thống, cho nên ông triển khai một cuộc thánh chiến chống lại những kẻ chiếm đóng. Vì đất nước, ông ấy đã hy sinh tất cả của bản thân, trong đó có cả hai người con trai của ông”[9].

Mowaffak al-Rubaie, cựu cố vấn an ninh quốc gia Iraq, cho biết: việc xử tử Saddam được định đoạt sau một cuộc nói chuyện qua video giữa Thủ tướng Iraq mới là Maliki và tổng thống Mỹ khi đó, George Bush. “Quý vị sẽ làm gì với tên tội phạm này?” – Bush hỏi. “Chúng tôi sẽ treo cổ ông ta”, Maliki đáp. Rồi Bush giơ ngón tay cái lên, bày tỏ đồng ý và tán thưởng[10].

Nhóm luật sư bảo vệ Saddam cũng tố cáo chính phủ Iraq đã can thiệp vào phiên toà. Một luật sư Mỹ cũng chỉ trích thời gian toà đưa ra tuyên án, bởi nó chỉ cách ngày bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ vài ngày, cuộc bầu cử mà Đảng Cộng hoà của Tổng thống Bush có nguy cơ mất Quốc hội vào tay Đảng Dân chủ vì cuộc chiến ở Iraq. Khali al-Dulaimi, trưởng đoàn luật sư biện hộ cho biết: “Ông ấy hoàn toàn không quan tâm gì tới bản án. Sự thật, phiên toà này là một trò hề và đầy nhạo báng”.

Cựu nhân viên tình báo John Nixon khi thẩm vấn ông đã rồi nhận ra rằng mọi thứ họ biết về ông qua truyền thông phương Tây đều không đúng. Hồ sơ của CIA về Saddam nói rằng ông là “kẻ nói dối kinh niên” nhưng thực ra ông lại rất thẳng thắn. Khi Nixon hỏi về việc ông Saddam dùng vũ khí hóa học ở thành phố Halabja của người Kurd trong cuộc chiến tranh Iran – Iraq, ông trở nên giận dữ: “Tôi không sợ anh hay tổng thống của anh. Tôi sẽ làm những điều mà tôi phải làm để bảo vệ đất nước tôi. Nhưng tôi đã không đưa ra quyết định đó”.

Trong các cuộc thẩm vấn, Saddam cáo buộc người Mỹ là “một đám du côn ngu dốt”, “Không có tinh thần lắng nghe và thấu hiểu” và có ý đồ hủy diệt đất nước Iraq. Saddam còn khẳng định lực lượng Mỹ sẽ không suôn sẻ ở Iraq. Khi John Nixon hỏi tại sao Saddam lại cảm thấy thế, ông trả lời: “Không dễ dàng để cai trị Iraq như vậy đâu. Các ông (Mỹ) không hiểu ngôn ngữ, lịch sử, và suy nghĩ của người Ả Rập. Rất khó để hiểu người dân Iraq mà không biết về lịch sử và thậm chí thời tiết của đất nước này”. Lịch sử đã chứng minh Saddam nói đúng[11]

Will Bardenwerper, người được giao nhiệm vụ giám sát Saddam Hussein trong tù, viết: Saddam là người cư xử rất nhẹ nhàng tình cảm với những người lính cai ngục và hết sức lịch sự. Ông hay kể những câu chuyện về gia đình mình. Saddam rất thích ngồi ở khu vực giải trí dành riêng bên ngoài phòng giam và thích tưới cây, ông rất gần gũi với những người lính cai ngục Mỹ và họ đã coi Saddam như người bạn thân thiết. Hình ảnh của ông hoàn toàn trái ngược với một nhà độc tài mà truyền thông phương Tây thường mô tả: “Có lẽ điều kỳ lạ nhất là tất cả những người lính Mỹ được giao nhiệm vụ cai quản Saddam đều thương tiếc khi ông bị tử hình, mặc dù ông được coi là kẻ thù của nước Mỹ.”

Tường thuật lại thái độ của ông Saddam Hussein trước khi toà tuyên án, hãng Reuters nhận xét : Trước cái chết, Saddam Husein tỏ ra khinh thường án tử hình khi ông công bố không sợ chết và lôi kéo Mỹ hãy rút quân về nước như họ đã từng làm tại Nước Ta. Các luật sư của ông Saddam cho biết họ đã chuyện trò một cách vui tươi với ông suốt hơn 3 giờ đồng hồ đeo tay ngay trước khi toà tuyên án tử hình. Chủ đề là về tình hình đấm đá bạo lực tại Iraq và việc Mỹ sắp thua trong đại chiến tại đây. Saddam tỏ ra không chăm sóc tới việc phiên toà sẽ diễn ra thế nào, ông hầu hết tập trung chuyên sâu vào tình hình quốc gia và tỉ lệ binh lính Mỹ thiệt mạng ngày càng ngày càng tăng tại Iraq .

Các luật sư thuật lại lời của ông Saddam tại toà: “Tôi không cảm thấy một chút sợ sệt. Tôi sẽ chết một cách vinh quang, trong niềm tự hào của dân tộc và quốc gia Ả-rập thân yêu của tôi, nhưng những kẻ xâm lược Mỹ sẽ phải rút quân về nước trong sự bẽ mặt và thất bại”. Cũng tại phiên toà, khi được một luật sư chuyển cho cuốn sách “Những năm tháng của tôi tại Iraq: Nỗ lực để xây dựng một tương lai hy vọng” do một quan chức Mỹ viết để ca tụng những gì người Mỹ làm được ở Iraq, Saddam chỉ nói: “Tôi có thể nhìn thấy Mỹ đang chìm dần trong bãi lầy Iraq, giống những gì đã xảy ra tại Việt Nam”. Theo hãng BBC, Saddam Hussein nói mình sẵn sàng chết và coi đó như là “sự hy sinh cho Iraq”, bên cạnh đó ông kêu gọi người Iraq đoàn kết chống lại kẻ thù. Trong một lá thư, Ông Saddam Hussein viết: “Tôi sẽ hy sinh. Nếu ý nguyện của đấng tạo hóa là chuyện này, ngài sẽ đưa tôi vào danh sách những người tử vì đạo chân chính”.

Những ngày ở đầu cuối của cuộc sống, Saddam Hussein làm thơ ở đầu cuối – nguồn an ủi mà ông thường tìm đến trong những lúc khó khăn vất vả. Bài thơ mở màn bằng lời ca tụng tình yêu của bản thân ông so với nhân dân, rồi sau đó là sự cảnh báo nhắc nhở những kẻ ngoại bang và những người Iraq thân Mỹ đang nắm quyền ở nước này :

Hãy trải lòng mình.
Tâm hồn người là bạn của tôi, tâm hồn người là tình yêu của tôi.
Đối với trái tim tôi, không nơi nào ấm áp bằng tâm hồn người.
Kẻ thù cõng ngoại bang giày xéo xã tắc chúng ta.
Chúng sẽ phải than khóc.
Đây ta phơi lồng ngực trước bầy sói.
Không run sợ trước lũ thú cuồng bạo.
Ta hy sinh tâm hồn này cho Người và Tổ quốc.
Máu ta sẵn sàng đổ những lúc khó khăn.

Ông Rezgar Mohammed Amin, thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử xét xử cựu Tổng thống Saddam Hussein, đã từ chức năm 2006 sau vài phiên xét xử. ông quyết định hành động từ chức là do việc xét xử không công minh, không dựa trên pháp luật Iraq cũng như pháp luật quốc tế, đồng thời ông luôn luôn bị sức ép từ phía chính phủ nước nhà Iraq và chính quyền sở tại Mỹ. Ông nói : nếu Saddam Hussein được xét xử tại tòa án nhân dân hình sự quốc tế thì ông sẽ không bị án tử hình, và nếu xử theo luật Iraq thì Saddam Hussein cũng không phải chịu án tử hình. Phiên tòa không được truyền hình trực tiếp mà phải qua người Mỹ ngồi phòng bên cạnh kiểm duyệt, cắt bỏ những đoạn Saddam Hussein nói về những yếu tố mà Mỹ không thích .Saddam bị tử hình vào ngày 30/10/2006, đó lại là ngày tiên phong của lễ Al-Edha thiêng liêng của đạo Hồi. Luật Iraq cấm tử hình bất kể người nào vào những dịp nghỉ lễ tôn giáo và dịp quốc khánh, nhưng cơ quan chính phủ Iraq và Mỹ đã không tôn trọng điều này. Ông Amin cho rằng việc tử hình Saddam Hussein vào ngày đó là một sự trả thù [ 12 ] .Mowaffak al-Rubaie, một nhân chứng của vụ tử hình, kể rằng Saddam vẫn rất can đảm và mạnh mẽ, hiên ngang cho tới những giờ phút sau cuối trước khi bị hành quyết và không khi nào nói hụt hẫng. Saddam Hussein không hề nghĩ đến cái chết đang cận kề mà chỉ coi vụ hành hình là một vở diễn cuối trong cuộc sống mình. Ông tỏ ra tự hào về những di sản của mình, và chỉ do dự rằng mọi người sẽ nhớ tới mình như thế nào sau này :

Ông ấy mặc áo khoác và áo sơ-mi trắng, tỉnh táo và thư giãn, tôi không hề thấy dấu hiệu sợ hãi nào. Tôi không nghe thấy ông ấy nói gì về việc hối tiếc hay sự thương xót, tha thứ của Chúa trời, hoặc xin được ân xá. Một người sắp chết thường nói: “Xin Chúa trời hãy tha thứ cho những tội lỗi của con, con đang về với người”. Nhưng ông ấy không hề nói điều gì như thế…
Khi tôi đưa Saddam vào, ông ấy đang bị còng tay và cầm một quyển Kinh Koran. Khi người ta tuyên đọc hàng loạt tội danh, Saddam đáp lại: “Đả đảo Mỹ! Đả đảo Israel! Palestine muôn năm! Đả đảo đế quốc Ba Tư!”

Khi vào phòng xử tử, Saddam dừng lại, nhìn vào giá treo cổ rồi nói: “Các người thấy đấy, thứ này là dành cho những người đàn ông, tôi là một người đàn ông đích thực, dám làm và dám hy sinh, tôi tự hào vì mình là một trong những người đàn ông như thế”[13].

Có một vài cảnh sát hỏi: “Tại sao ông lại gây biết bao đau khổ cho chúng tôi? Chúng ta là một dân tộc giàu có, nhiều tài nguyên, tại sao ông lại gây ra ngần ấy cuộc chiến tranh, tại sao?” Saddam trả lời ông không gây chiến với bất cứ ai: “Tôi chỉ chiến đấu chống lại kẻ thù của Iraq là người Ba Tư và Mỹ. Trước đây các anh là những người chân đất, không có giày dép mà đi, không có sữa mà uống, tôi là người đã mang lại cuộc sống ấm no cho các anh, tôi đã làm cho các anh trở thành con người”[12].

Đao phủ ý kiến đề nghị trùm lên đầu ông một cái túi màu đen cho đỡ sợ nhưng ông khước từ, điều này chứng tỏ ông không sợ chết. Câu nói sau cuối của ông trước khi bước lên bậc thang dẫn đến sợi dây treo cổ : Hãy để cho đứa con trai của tôi và những người này, người nọ được sống. Sau đó ông bước lên nơi đặt chiếc giá treo cổ một cách tự nhiên, không có bất kể tín hiệu chần chừ hoặc sợ hãi nào .

Khi được nói câu cuối cùng, Saddam Hussein bắt đầu ngân nga một câu kinh Hồi giáo, rằng “Không có Chúa trời nào khác ngoài Đấng Alah, tôi thừa nhận rằng Mohammad là sứ giả của Đấng Alah. Không có Chúa trời nào khác ngoài Đấng Alah, tôi thừa nhận rằng Mohammad…” – ông chưa kịp đọc hết lời cầu nguyện thì đao phủ đã giật tấm ván cho ông rơi xuống giá treo cổ.

Di sản

Chìa khoá để nắm giữ quyền lực tối cao vĩnh viễn của Saddam Hussein là thiết lập một mối quan hệ chưa từng có ở Trung Đông giữa một mạng lưới hệ thống cũ và mang tính truyền thống lịch sử giữa những bộ tộc với một cơ cấu tổ chức quân sự chiến lược bảo mật an ninh của một nhà nước tân tiến. Sự độc lạ ở chỗ gắn thực tiễn thời xưa này vào một quốc gia có tham vọng quân sự chiến lược lớn nhất quốc tế Arab. Kết quả là một chính sách lai tạp : không độc tài quân sự chiến lược cũng không cộng hoà thế tục, và cũng không phải chính sách thần quyền. Sự lai tạp này bảo vệ việc duy trì trật tự bảo mật an ninh tại Iraq trong suốt thời kỳ Saddam nắm quyền .

Số phận của Iraq cũng giống như vài năm trước đó ở Nam Tư (Slobodan Milošević), và vài năm sau đó ở Libya (Muammar al-Gaddafi): lãnh đạo của các nước này bị phương Tây gán cho là “độc tài, phạm tội ác chống nhân loại”, rồi sau đó phương Tây đem quân tấn công lật đổ họ, lật đổ xong thì các chính khách phương Tây sẽ hứa hẹn với người dân nước đó về “tự do, dân chủ, nhân quyền”, nhưng rồi sau đó là những ngày tháng hỗn loạn và cuối cùng là cả đất nước sẽ tan vỡ ra thành nhiều mảnh (Nam Tư đã tan vỡ thành 6 mảnh, Libya thì đang tan vỡ thành 4 mảnh mà vẫn chưa dừng lại).

Tổng thống Mỹ George Bush ca ngợi việc hành hình ông Saddam là “một cột mốc quan trọng trong tiến trình đi đến dân chủ ở Iraq”, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Mỹ là Joseph Biden, phát biểu: “Iraq đã khép lại một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử và thoát khỏi chế độ bạo chúa”. Toàn quyền Paul Bremer, người đứng đầu chính quyền chuyển tiếp tại Iraq thời hậu Saddam trong 13 tháng, trước khi rời Iraq còn hào hứng tuyên bố: “Nhìn lại chúng ta thấy rằng Mỹ đã làm được rất nhiều điều cho đất nước Iraq. Thực sự, chúng ta đang giúp cho Iraq trở thành một quốc gia dân chủ”[14]. Thực tế trong 15 năm sau đã chứng minh những gì mà các chính khách Mỹ hứa hẹn là hoàn toàn sai: Iraq chẳng hề có dân chủ, mà chỉ có chiến tranh và tàn phá.

Hoa Kỳ công bố Saddam Hussein ” chiếm hữu vũ khí giết người hàng loạt ” để phát động đại chiến, dư luận biết ngay đó là cái cớ được ngụy tạo, tuy nhiên Tổng thống Mỹ George Bush vẫn cho rằng ông ta sẽ đánh lừa được dư luận. Và Hoa Kỳ đã ảo tưởng khi tin rằng hoàn toàn có thể dựng nên chính quyền sở tại mới tại Iraq hoàn toàn có thể nằm trong sự quản trị và tinh chỉnh và điều khiển theo ý muốn của họ. Người dân Iraq đã phải trả cái giá quá đắt cho những toan tính sai lầm đáng tiếc của chính quyền sở tại Mỹ [ 14 ]nhỏ | 250 px | Đất nước Iraq năm năm nay đã bị chia làm 3 mảnh, chưa kể hàng chục bộ tộc cát cứ tại những địa phương Sau khi Saddam Hussein bị lật đổ, Iraq trọn vẹn thiếu vắng một nhà chỉ huy cứng rắn và biết đoàn kết những bộ tộc, cơ quan chính phủ thân Mỹ thì tham nhũng trong khi lính Mỹ hiện hữu khắp nơi khiến người dân nước này rất phẫn nộ. nhà nước mới rập khuôn phương Tây theo quy mô phân loại quyền lực tối cao, quyền lợi và nghĩa vụ đa phần dựa trên quyền lợi đảng phái, nó dẫn tới việc tiềm ẩn rất nhiều xích míc nội tại, bởi sự sự không tương đồng về quyền lợi đảng phái – sắc tộc – tôn giáo luôn sống sót và không hề hóa giải. Các xích míc ngày càng tích tụ và thủ đoạn ly khai của những nhóm sắc tộc ở Iraq nhanh gọn bùng phát. Các phe phái địa phương ở Iraq làm mưa làm gió khắp nơi. Đất nước Iraq chìm trong hỗn loạn và cuộc chiến tranh suốt từ nằm 2003 tới nay .

Năm 2011, Mỹ rút quân khỏi Iraq, để lại “một vũng lầy” đúng như những gì Saddam Hussein đã dự đoán. Dưới thời Saddam Hussein, ở Iraq hoàn toàn không có khủng bố quốc tế, còn sau khi ông chết, đất nước Iraq đã trở thành “Đại học Harvard của chủ nghĩa khủng bố”. Mỹ tấn công Iraq với tuyên bố “tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố”, nhưng rốt cục họ đã tạo nên một mảnh đất màu mỡ cho khủng bố quốc tế xây dựng lực lượng. Đến năm 2014, đất nước Iraq trên thực tế đã không còn là một quốc gia thống nhất mà đã bị xé nát thành nhiều mảnh bởi nhiều phe phái như chính phủ Iraq thân Mỹ, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant, quân người Kurd…

Những quy trình tiến độ không thay đổi lê dài ở trong nước thời Saddam trọn vẹn trái ngược với thực trạng đấm đá bạo lực đẫm máu lan tràn khắp nước Iraq kể từ khi Saddam bị lật đổ. Ông Saddam cũng được một số ít người Arab ngưỡng mộ vì đại chiến 1980 – 1988 với Iran, việc ông cạnh tranh đối đầu với Mỹ, tiến công Israel .Khi Saddam Hussein bị bắt và bị treo cổ, nhiều quân địch của Saddam đã nổ súng chào mừng. Cuộc trấn áp người Kurd ở phía bắc, cuộc tiến công Iran, những nhóm trái chiều với ông này … khiến Saddam có nhiều quân địch và họ đều mong ông bị giết. Tuy nhiên, sự hỗn loạn kể từ sau đại chiến Iraq, những xung đột sắc tộc lê dài đã khiến người Iraq xem xét lại quan điểm của họ về cái gọi là ” sự hung tàn ” nhưng giúp duy trì một xã hội không thay đổi suốt 35 năm nắm quyền của Saddam. Hiện nay, ngày càng nhiều người Iraq tỏ ý hụt hẫng về sự ra đi của Saddam và nhìn lại kỷ nguyên của ông này với sự luyến tiếc. Ngày càng nhiều người Iraq tới thăm mộ ông để tỏ lòng kính trọng ông, nhiều người đã coi ông là một chiến sỹ ” Tử vì đạo ” [ 15 ]

Kế hoạch tiến công Ðài châu Âu Tự do

Saddam từng có kế hoạch dùng hỏa tiễn chống chiến xa để tiến công đài châu Âu Tự do ( Radio Free Europe / Radio Liberty ) do chính phủ nước nhà Hoa Kỳ hỗ trợ vốn, đặt trụ sở ở Praha, theo cơ quan phản gián Cộng hòa Séc nói ngày 30 tháng 11 năm 2009. Các nhân viên cấp dưới tình báo Iraq giả dạng giới chức ngoại giao dự trù sẽ mở cuộc tiến công từ hành lang cửa số một căn căn hộ cao cấp trong tòa nhà gần vị trí của đài ở TT Hà Nội Thủ Đô Praha. [ 16 ]Vào năm 2000, tình báo Séc biết rằng Saddam ra lệnh mở cuộc tiến công nhưng không nói rõ là lệnh có từ lúc nào hay sẽ diễn ra trong thời gian nào. Saddam Hussein ra lệnh cho cơ quan tình báo của mình là phải dùng vũ lực để cản trở chương trình phát thanh của Ðài Âu Châu Tự Do phát về Iraq và cung ứng nguồn kinh tế tài chính lớn cho kế hoạch này. Ðài châu Âu Tự do khởi sự những buổi phát thanh nhắm vào Iraq từ năm 1998. [ 17 ]Các nhân viên cấp dưới tình báo Iraq dùng xe ngoại giao đoàn để chở vũ khí vào Séc, gồm một súng phóng lựu RPG-7, sáu khẩu tiểu liên và đạn dược. Các giới chức Iraq được cảnh cáo năm 2000 là chính phủ nước nhà Séc biết về thủ đoạn này, theo phát ngôn viên cơ quan tình báo Cộng hòa Séc, Jan Subert. Tiếp theo lời cảnh cáo, chính phủ nước nhà Séc trục xuất sáu nhân viên cấp dưới ngoại giao Iraq với nguyên do làm gián điệp, người đầu vào năm 2001 và năm người kia vào tháng 3 năm 2003, theo ông Subert. Vào tháng 4 năm 2003, một tháng sau khi quân đội Hoa Kỳ và liên minh tiến vào Iraq, giới chức tại Tòa Ðại sứ Iraq ở Praha giao nạp số vũ khí nói trên cho chính quyền sở tại Séc. [ 18 ]

Ðài châu Âu Tự do dời trụ sở từ München, Đức, sang Praha năm 1995 sau khi chính quyền Tiệp Khắc nơi đây sụp đổ năm 1989. Ðài hiện đang phát thanh 28 thứ tiếng đến 20 quốc gia, kể cả Iran và Iraq, kể từ năm 1998 và Afghanistan từ năm 2002.

Xem thêm

Chú thích

Liên kết ngoài

Template : Thời gian sốngTemplate : Thể loại CommonsThể loại : Tín hữu Hồi giáo Iraq Thể loại : Tổng thống Iraq Thể loại : Độc tài Thể loại : Quân nhân Iraq trong Chiến tranh Iran-Iraq Thể loại : Tội phạm thế kỷ 20 Thể loại : Tiểu thuyết gia thế kỷ 20 Thể loại : Tiểu thuyết gia thế kỷ 21 Thể loại : Chính trị gia thế kỷ 21 Thể loại : Mất 2006 Thể loại : Nhân vật trong cuộc chiến tranh Iran-Iraq

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Đầu Tư