Đài Vô tuyến Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt

Nhạc sĩ Anh Ngọc ( trái ) và Nhật Bằng, xướng ngôn viên của Đài Tiếng nói Quân đội trong buổi thu thanh năm 1965

Đài Vô tuyến Việt Nam (viết tắt là VTVN) tức Radio Vietnam hay còn được gọi là Đài phát thanh Sài GònĐài Phát thanh Quốc gia là tên của hệ thống radio của Việt Nam Cộng hòa tồn tại đến năm 1975 tại miền Nam Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống này còn có tên tiếng Pháp là Le Radio-diffusion National du Vietnam.[1] Thời Đệ Nhất Cộng hòa thì gọi là đài Tiếng nói nước Việt Nam Cộng hòa.[2]

VTVN đúng ra có bốn đài trên năm mạng lưới hệ thống : A, B, C, D .

VTVN-D, năm 1974. Nhạc và lời ra mắt tiếng AnhĐài Vô tuyến Việt Nam được thiết lập vào năm 1950 thời Quốc gia Việt Nam nhưng lúc đó do người Pháp điều hành quản lý. Họ khởi đầu chuyển giao lại cho cơ quan chính phủ Việt Nam vào Tháng Bảy, 1954 đến năm 1955 thì người Pháp trọn vẹn rút khỏi. Hoa Kỳ viện trợ tăng trưởng mạng lưới hệ thống, lan rộng ra địa phận cũng như tăng lực phát sóng. Đài Hồ Chí Minh bắt đầu chỉ có 5 kW rồi sau ngày càng tăng lên dần thành 100 kW .Thời Đệ Nhất Cộng hòa Tổng thống Ngô Đình Diệm có kế hoạch cho tăng trưởng VTVN kèm với Ấp Chiến lược nhưng sau không thực thi được ngoài 4 đài nhỏ ở Long An, Bến Tre, Mỹ Tho và Hội An. Năm 1961 thì ngoài trụ sở ở Hồ Chí Minh, có sáu đài tiếp vận ở Huế, Tỉnh Quảng Ngãi, Nha Trang, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, và Ba Xuyên. Đến năm 1966 tăng lên là 13 đài địa phương. Vào thời gian năm 1964 trên toàn nước có 420.000 máy radio tắt sóng. [ 4 ]

Sau cuộc Tấn công Tết Mậu Thân với đài phát thanh là mục tiêu quân sự bị lực lượng Quân giải phóng tìm cách phá hủy, hệ thống VTVN được tổ chức lại với đài Sài Gòn là đài chính; cấp thứ nhì là cấp vùng gồm 3 đài 50 kW ở Đà Nẵng, Quy Nhơn và Nha Trang. Cấp thứ ba là cấp tỉnh gồm bốn đài: Huế, Quảng Ngãi, Cần Thơ và Ban Mê Thuột. Riêng đài Ban Mê Thuột phát sóng ở lực 55 kW. Số còn lại là đài địa phương. Đài tỉnh và địa phương thì có thêm những chương trình tôn giáo của địa phương và cả ngôn ngữ người Thượng như trường hợp đài Ban Mê Thuột, Pleiku và Đà Lạt.

VTVN Hồ Chí Minh phát thanh 18 giờ mỗi ngày trong khi đài địa phương ngắn giờ hơn. Quốc ca Việt Nam Cộng hòa được tấu lên vào lúc 23 giờ 58 và 07 giờ 58 ( riêng ngày 29 tháng 4 năm 1975 là 23 giờ 57 và 15 giờ 58 ). Vào thập niên 1960 Đài Vô tuyến Việt Nam khởi đầu chương trình tuyển mộ ca sĩ rất được hâm mộ. [ 5 ]
Bản đồ Hệ-thống phát-thanh vô-tuyến Việt-Nam Cộng-hòa năm 1960, với những trạm phát sóng

Đài Tiếng nói Quân đội có mặt từ năm 1954, thuộc Nha Vô tuyến Truyền thanh, sau chuyển sang Nha Chiến tranh Tâm lý. Trụ sở đài đặt ở 2bis đường Hồng Thập Tự.[3]

Trong khi đó VTVN hoạt động giải trí bán tự trị do ban quản trị năm thành viên quản trị nhưng chủ tọa là bộ trưởng liên nghành Bộ tin tức. Tổng giám đốc của VTVN là thư ký của ban quản trị. Năm 1970 thì VTVN với ngân sách 1,7 triệu Mỹ kim chuyển về nhờ vào Bộ tin tức. Đài Phát Thanh TP HCM là lời nói của nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Đài này chấm hết hoạt động giải trí vĩnh viễn vào 16 giờ, ngày 29 tháng 4 năm 1975. Trụ sở của Đài Phát thanh TP HCM tọa lạc tại số 3 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường Đa Kao ( nay là trụ sở Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ) .
Vào năm 1964 trong số 11 đài trên toàn nước phát thanh 12 giờ / ngày, trong đó 96 giờ ( 80 % ) phát thanh bằng tiếng Việt. Phần còn lại bằng tiếng Anh, Pháp, Hoa, Miên, Thái và 1 số ít ngôn từ sắc tộc người Thượng. [ 6 ]Chương trình Đài phát thanh Quân đội gồm có ” Giờ của Dạ Lan “, mở màn từ năm 1964, phát thanh từ 19 h30 đến 20 h30 mỗi đêm ; ” Tiếng ca gởi người tiền tuyến ” do Mạnh Phát đảm nhiệm ( 1735 đến 1825 ) ; ” Văn nghệ quân nhân tài tử ” ( Chủ nhật 1800 đến 1845 ). Các nghệ sĩ thường góp mặt trong chương trình ” Tiếng ca gởi người tiền tuyến ” gồm có Thanh Thúy, Lệ Thanh, Hà Thanh, Thái Thanh, Minh Tuyết, Tuyết Mai, Hùng Cường và Duy Khánh. [ 3 ] Dương Thiệu Tước đảm nhiệm chương trình ” Cổ kim hòa điệu “, phối hợp nhạc truyền thống lịch sử và tân nhạc. [ 7 ]

Nhân vật tương quan[sửa|sửa mã nguồn]

  • Hà Thượng Nhân – giám đốc[8]
  • Lê Dinh – phụ trách chương trình tân nhạc của Đài Phát thanh[9]
  • Thái Văn Kiểm – giám đốc[10]

Tham khảo và Chú thích[sửa|sửa mã nguồn]

  • Choinski, Walter Frank. Country Study: Republic of Vietnam. Washington, DC: The Military Assistance Institute, 1965.
  • Hoffer, Thomas William. Broadcasting in an Insurgency Environment: USIA in Vietnam, 1965-1970. University of Wisconsin, 1972. tr 397-505