Malaysia – Wikipedia tiếng Việt

Malaysia (phiên âm: Ma-lai-xi-a [7], còn được gọi tắt là Mã Lai[8]) là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang nằm tại phía nam của khu vực Đông Nam Á. Quốc gia này bao gồm 13 bang và ba lãnh thổ liên bang với tổng diện tích đất liền là 330,803 km². Malaysia bị tách làm hai phần qua biển Đông: Malaysia bán đảo và Borneo thuộc Malaysia. Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Indonesia, và Brunei, trong khi có biên giới trên biển với Singapore, Việt Nam, và Philippines, giáp biên giới với Campuchia qua Vịnh Thái Lan. Thành phố thủ đô là Kuala Lumpur, song nơi đặt trụ sở của chính phủ liên bang là Putrajaya. Năm 2010, dân số Malaysia được ước tính là 28,33 triệu người, trong đó 22,6 triệu sinh sống tại phần Bán đảo. Malaysia có điểm cực nam của đại lục Á-Âu là Tanjung Piai. Malaysia là một quốc gia nhiệt đới và là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học nhất trên thế giới, với nhiều loài đặc hữu.

Malaysia có nguồn gốc từ các vương quốc Mã Lai hiện diện trong khu vực và từ thế kỷ XVIII, các vương quốc này bắt đầu lệ thuộc vào Đế quốc Anh. Các lãnh thổ đầu tiên của Anh Quốc được gọi là Các khu định cư Eo biển. Các lãnh thổ tại Malaysia bán đảo được hợp nhất thành Liên hiệp Malaya vào năm 1946. Malaya được tái cấu trúc thành Liên bang Malaya vào năm 1948 và giành được độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Malaya hợp nhất với Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, với từ si được thêm vào quốc hiệu mới là Malaysia. Đến năm 1965, Singapore bị trục xuất khỏi liên bang.

Malaysia là một vương quốc đa dân tộc bản địa và văn hóa truyền thống, đặc thù này đóng một vai trò lớn trong mạng lưới hệ thống chính trị vương quốc. Hiến pháp công bố Hồi giáo là quốc giáo trong khi vẫn bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Hệ thống chính quyền sở tại của Malaysia có quy mô gần với mạng lưới hệ thống nghị viện Westminster và mạng lưới hệ thống pháp lý dựa trên thông luật của Anh Quốc. Nguyên thủ vương quốc cao nhất là Quốc vương, còn được gọi là Yang di-Pertuan Agong. Người này là một quân chủ tuyển cử, được chọn từ những quân chủ kế tập của chín bang Mã Lai theo chế độ quân chủ, đổi khác sau mỗi 5 năm. Người đứng đầu chính phủ nước nhà liên bang là thủ tướng .

Kể từ sau khi giành được độc lập, Malaysia đã trở thành một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng liên tục, trung bình ở mức 6,5% trong gần 50 năm liên tiếp, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao. Về truyền thống, yếu tố thúc đẩy cho kinh tế Malaysia là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, song, quốc gia này hiện cũng đang rất phát triển trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, khoa học ứng dụng, du lịch, thương mại và y tế. Ngày nay, Malaysia sở hữu một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới tiệm cận mức phát triển, duy trì, giữ vững quy mô GDP danh nghĩa lớn thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á sau Thái Lan và Indonesia qua nhiều năm. Malaysia là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Hội nghị cấp cao ASEAN – Đông Á, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Liên Hợp Quốc, WTO, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Khối Thịnh vượng chung các quốc gia và Phong trào không liên kết.

Bản đồ tiếng Anh của Đông Nam Á, kiểu chữ "MALAYSIA" theo chiều ngang để các chữ cái chạy qua góc cực bắc của Borneo và đi qua phía nam Philippines. ” Malaysia ” được sử dụng làm nhãn cho Quần đảo Mã Lai trên map năm 1914 từ tập map Hoa Kỳ

Tên “Malaysia” là sự kết hợp của từ “Malay” và hậu tố Latinh-Hy Lạp “-sia”[9][10] “Malay” là một từ ngữ quốc gia chỉ người Mã Lai, một nhóm sắc tộc Nam Đảo và một quốc gia có nguồn gốc từ Đông Nam Á hải đảo. Nguồn gốc của từ “Malay” là không chắc chắn và tuân theo các lý thuyết khác nhau. Văn học sử thi bản địa, Biên niên sử Mã Lai, liên kết nguồn gốc từ nguyên của “Malay” với Sungai Melayu trong Sumatra. Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ từ tiếng Mã Lai melaju, sự kết hợp của lời nói tiền tố “tôi” và từ gốc laju, có nghĩa là “tăng tốc”, được sử dụng để mô tả dòng chảy mạnh của dòng sông.[11] Một lý thuyết khác khẳng định nguồn gốc của nó từ tiếng Tamil các từ “malai” và “ur” có nghĩa là “núi” và “thành phố, đất”, tương ứng.[12][13][14] được tìm thấy trong bản khắc của thế kỷ 11 của Đền Brihadeeswarar.[15]

Tuy nhiên, các biến thể âm thanh tương tự cũng đã xuất hiện trong các tài khoản cũ hơn thế kỷ 11, thường được sử dụng như là từ đồng nghĩa cũ với các phần của Eo biển Malacca.[15] Văn bản tiếng Phạn Vayu Purana được cho là tồn tại từ thiên niên kỷ thứ nhất TCN, đã đề cập đến một vùng đất gọi là “Malayadvipa” được một số học giả xác định là bán đảo Mã Lai.[16][17][18][19][20] Các loại cắt nghĩa đáng chú ý khác là vào thế kỷ thứ 2 Geographia của Ptolemy đã ghi lại tên Maleu-Kolon cho bờ biển phía tây của Golden Chersonese, và thế kỷ thứ 7 Yijing cắt nghĩa của Mo-Lo-Yu.[15] Thuật ngữ “Malay” được cho là đã phát triển thành dân tộc với sự ra đời của Vương quốc Malacca, có trụ sở tại bán đảo Mã Lai, như một cường quốc khu vực trong thế kỷ 15. Hồi giáo đã thiết lập một bản sắc dân tộc ở Malacca với thuật ngữ “Malay” sau đó, bắt đầu xuất hiện như có thể hoán đổi với người Malacca, đặc biệt là trong việc mô tả sở thích văn hóa của người Malacca đối với người nước ngoài.[15]

Trước khi thực dân châu Âu đặt chân đến, bán đảo Mã Lai được biết đến như là “Tanah Melayu” (“Vùng đất Mã Lai”).[21][22] Theo phân loại chủng tộc được tạo ra bởi một học giả người Đức Johann Friedrich Blumenbach, người bản địa của Đông Nam Á hải đảo đã được nhóm thành một loại duy nhất, chủng tộc Mã Lai.[23][24] Sau cuộc thám hiểm của hoa tiêu Pháp Jules Dumont d’Urville đến Châu Đại Dương vào năm 1826, sau đó ông đã đề xuất sự giao thiệp của “Malaysia”, “Micronesia” và “Melanesia” cho Société de Géographie vào năm 1831, phân biệt các nền văn hóa Thái Bình Dương và các nhóm đảo với thuật ngữ hiện có “Polynesia”. Dumont d’Urville mô tả Malaysia là “một khu vực thường được gọi là Đông Ấn”.[25] Theo thuật ngữ hiện đại, “Malay” vẫn là tên của một sắc tộc tôn giáo của người Nam Đảo chủ yếu sinh sống trên Bán đảo Mã Lai và một phần của các đảo lân cận Đông Nam Á, bao gồm cả bờ biển phía đông Sumatra, bờ biển của Borneo và những hòn đảo nhỏ hơn nằm giữa những khu vực này.[26]

Malaysia giành được độc lập từ Vương quốc Anh vào năm 1957 đã lấy tên là ” Liên bang Mã Lai “, được chọn để ưu tiên cho những tên tiềm năng khác như ” Langkasuka “, theo tên của vương quốc lịch sử vẻ vang nằm ở phía trên phần bán đảo Mã Lai trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN. [ 27 ] [ 28 ] Tên ” Malaysia ” được trải qua vào năm 1963 khi những bang hiện có của Liên bang Mã Lai, cộng với Nước Singapore, Bắc Borneo và Sarawak xây dựng một liên bang mới. [ 29 ] Một giả thuyết đặt ra cái tên đã được chọn sao cho ” si ” đại diện thay mặt cho sự gồm có Nước Singapore, Bắc Borneo và Sarawak đến Mã Lai vào năm 1963 [ 29 ] Các chính trị gia ở Philippines dự trù đổi tên nhà nước thành ” Malaysia ” trước khi quốc gia văn minh lấy tên. [ 30 ]

Có bằng chứng về việc người hiện đại cư trú tại Malaysia cách nay 40.000 năm.[31] Tại bán đảo Mã Lai, các cư dân đầu tiên được cho là người Negrito.[32] Các thương nhân và người định cư từ Ấn Độ và Trung Quốc đến từ thế kỷ I CN, lập nên các thương cảng và đô thị duyên hải vào thế kỷ II và III. Sự xuất hiện của họ khiến ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Quốc có tác động mạnh đối các văn hóa bản địa, và người dân trên bán đảo Mã Lai tiếp nhận Ấn Độ giáo và Phật giáo. Các bản khắc bằng tiếng Phạn xuất hiện từ thế kỷ IV hoặc V.[33] Vương quốc Langkasuka nổi lên vào khoảng thế kỷ II ở khu vực bắc bộ của bán đảo Mã Lai, tồn tại cho đến khoảng thế kỷ XV.[27] Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, phần lớn nam bộ bán đảo Mã Lai là một phần của đế quốc hàng hải Srivijaya. Sau khi Srivijaya sụp đổ, đế quốc Majapahit có ảnh hưởng đối với hầu hết Malaysia bán đảo và quần đảo Mã Lai.[34] Hồi giáo bắt đầu truyền bá trong cộng đồng người Mã Lai vào thế kỷ XIV.[35] Vào đầu thế kỷ XV, một hậu duệ của hoàng thất Srivijaya là Parameswara thành lập Vương quốc Malacca, đây thường được xem là quốc gia độc lập đầu tiên tại bán đảo Mã Lai.[36] Đương thời, Malacca là một trung tâm thương mại quan trọng.

Người Bồ Đào Nha kiến thiết xây dựng pháo đài trang nghiêm A Famosa tại Malacca vào thế kỷ XVI .Năm 1511, Bồ Đào Nha chinh phục Malacca, [ 35 ] đến năm 1641 thì chủ quyền lãnh thổ này bị người Hà Lan chiếm đoạt. Năm 1786, Đế quốc Anh thiết lập một sự hiện hữu tại Malaya, khi đó Sultan của Kedah cho Công ty Đông Ấn Anh thuê Penang. Người Anh giành được Nước Singapore vào năm 1819, [ 37 ] và đến năm 1824 thì đoạt quyền trấn áp Malacca sau Hiệp định Anh-Hà Lan. Năm 1826, người Anh mở màn quản trị trực tiếp Penang, Malacca, Nước Singapore, và hòn đảo Labuan. Đến thế kỷ XX, tại những vương quốc Pahang, Selangor, Perak, và Negeri Sembilan, được gọi chung là Các vương quốc Mã Lai liên minh, có những thống sứ người Anh được chỉ định để cố vấn cho những quân chủ Mã Lai theo pháp luật trong những hiệp định mà họ từng ký. [ 38 ] Năm vương quốc còn lại trên bán đảo được gọi là Các vương quốc Mã Lai phi liên minh, những vương quốc này không chịu sự quản trị trực tiếp của người Anh, tuy nhiên cũng đồng ý chấp thuận những cố vấn người Anh. Tiến triển tại Bán đảo và Borneo nhìn chung là tách biệt cho đến thế kỷ XIX. Trong thời hạn người Anh quản lý, họ khuyến khích người Hoa và người Ấn nhập cư để trở thành lao công. [ 39 ] Khu vực mà nay là Sabah nằm dưới sự quản lý của người Anh với tên gọi Bắc Borneo khi cả Sultan của Brunei và Sultan của Sulu chuyển giao quyền sở hữu những chủ quyền lãnh thổ của riêng họ từ năm 1877 đến năm 1878. [ 40 ] Năm 1842, Sultan của Brunei nhượng Sarawak cho James Brooke, những Rajah da trắng kế tập quản lý Vương quốc Sarawak độc lập cho đến khi chủ quyền lãnh thổ này trở thành một thuộc địa vương thất Anh vào năm 1946. [ 41 ]Trong Chiến tranh quốc tế thứ hai, quân đội Nhật Bản tiến công, đánh bại quân Anh và chiếm đóng Malaya, Bắc Borneo, Sarawak, và Nước Singapore trong ba năm. Trong thời kỳ này, căng thẳng mệt mỏi sắc tộc ngày càng tăng và chủ nghĩa dân tộc bản địa tăng trưởng. [ 42 ] Sự ủng hộ của dân chúng so với độc lập tăng lên sau khi lực lượng Đồng Minh tái chiếm Malaya. [ 43 ]Hậu chiến, người Anh thực thi những nỗ lực nhằm mục đích hợp nhất việc quản lý Malaya trong một thuộc địa vương thất duy nhất gọi là Liên hiệp Malaya ( Malayan Union ), tuy nhiên điều này bị người Mã Lai phản đối mạnh, người Mã Lai phản đối việc vị thế của những quân chủ Mã Lai suy yếu và việc trao quyền công dân cho người gốc Hoa. Liên hiệp Malaya được xây dựng vào năm 1946 và gồm có hàng loạt những thuộc địa của Anh Quốc tại khu vực bán đảo Mã Lai, ngoại trừ Nước Singapore, tuy nhiên chính thể này nhanh gọn bị giải thể và sửa chữa thay thế bởi Liên bang Malaya ( Federation of Malaya ), chính thể này khôi phục quyền tự trị cho những quân chủ của những vương quốc Mã Lai dưới sự bảo lãnh của người Anh. [ 44 ] Trong thời kỳ này, dưới sự chỉ huy của Đảng Cộng sản Malaya, quân nổi dậy mà hầu hết là người gốc Hoa thực thi những hoạt động giải trí du kích với mục tiêu đánh đuổi người Anh ra khỏi Malaya. Tình trạng khẩn cấp Malaya lê dài từ năm 1948 đến năm 1960, và tương quan đến một chiến dịch chống làm mưa làm gió lê dài của quân Thịnh vương chung tại Malaya. [ 45 ] Sau đó, người ta đưa ra một kế hoạch nhằm mục đích Liên hiệp Malaya với những thuộc địa vương thất Bắc Borneo ( gia nhập với tên Sabah ), Sarawak, và Nước Singapore. Ngày yêu cầu hợp thành liên bang là 31 tháng 8 năm 1963, tuy nhiên, thời gian bị trì hoãn cho đến ngày 16 tháng 9 năm 1963 do phản đối của Indonesia dưới quyền Tổng thống Sukarno và Đảng Nhân dân Liên hiệp Sarawak. [ 46 ]

Sự thành lập liên bang khiến các căng thẳng tăng cao, bao gồm một cuộc xung đột với Indonesia, Singapore bị trục xuất vào năm 1965,[47][48] và xung đột sắc tộc. Xung đột sắc tộc lên đến đỉnh điểm trong các cuộc bạo loạn sắc tộc ngày 13 tháng 5 năm 1969.[49] Sau các cuộc bạo loạn, Thủ tướng Tun Abdul Razak đưa ra Chính sách Kinh tế mới gây tranh cãi, mục đích là nhằm nâng cao phần sở hữu kinh tế của bumiputera.[50] Dưới thời Thủ tướng Mahathir Mohamad, Malaysia trải qua tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng. Kinh tế Malaysia chuyển đổi từ dựa vào nông nghiệp sang dựa vào chế tạo và công nghiệp. Nhiều siêu dự án được hoàn thành, chẳng hạn như tháp đôi Petronas, xa lộ Nam-Bắc, hành lang đa phương tiện siêu cấp, và thủ đô hành chính liên bang mới Putrajaya.[29]

Phân cấp hành chính[sửa|sửa mã nguồn]

Malaysia là một liên bang gồm 13 bang và ba chủ quyền lãnh thổ liên bang. Chúng được phân thành hai khu vực, 11 bang và hai chủ quyền lãnh thổ liên bang nằm tại Malaysia bán đảo ; hai bang và một chủ quyền lãnh thổ liên bang nằm ở Đông Malaysia. Quyền quản lý những bang được phân loại giữa chính phủ nước nhà liên bang và bang, trong khi cơ quan chính phủ liên bang quản trị trực tiếp so với những chủ quyền lãnh thổ liên bang. [ 51 ]13 bang của Malaysia dựa trên nền tảng những vương quốc Mã Lai lịch sử, 9 trong số 11 bang Bán đảo vẫn duy trì những gia tộc vương thất của mình, và được gọi là những bang Mã Lai. Quốc vương được tuyển cử từ chín quân chủ với nhiệm kỳ 5 năm. [ 35 ] Mỗi bang có một cơ quan lập pháp đơn viện được gọi là Hội đồng lập pháp bang. Mỗi bang được chia tiếp thành những huyện, rồi lại được chia thành mukim. Tại Sabah và Sarawak những huyện được nhóm thành tỉnh. [ 52 ] Sabah và Sarawak có quyền tự chủ nhiều hơn đáng kể so với những bang khác, đáng quan tâm nhất là chủ trương và trấn áp nhập cư riêng. [ 53 ]
Malaysia có 18 thành phố. Duy nhất Perlis có thị xã .

nhà nước và chính trị[sửa|sửa mã nguồn]

Malaysia là một vương quốc quân chủ tuyển cử lập hiến liên bang. Hệ thống cơ quan chính phủ theo quy mô gần với mạng lưới hệ thống nghị viện Westminster, một di sản của chính sách thuộc địa Anh. [ 54 ] Nguyên thủ vương quốc là Yang di-Pertuan Agong, thường được gọi là Quốc vương. Quốc vương được bầu theo mỗi nhiệm kỳ 5 năm từ chín quân chủ kế tập của những bang Mã Lai ; bốn bang còn lại có nguyên thủ trên danh nghĩa tuy nhiên không tham gia vào việc tuyển lựa. Theo thỏa thuận hợp tác không chính thức, vị trí Quốc vương sẽ do quân chủ chín bang luân phiên nắm giữ, [ 54 ] Vai trò của Quốc vương hầu hết mang tính lễ nghi kể từ sau những biến hóa trong hiến pháp vào năm 1994. [ 55 ]Quyền lập pháp được phân loại giữa những cơ quan lập pháp liên bang và bang. Nghị viện liên bang của Malaysia gồm có hạ viện và thượng viện. [ 56 ] Hạ viện gồm có 222 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ tối đa là 5 năm từ những khu vực bầu cử một ghế. Toàn bộ 70 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm ; 26 người được 13 QH bang tuyển chọn, 44 người được Quốc vương chỉ định theo tiến cử của Thủ tướng. [ 35 ] Nghị viện Malaysia theo một mạng lưới hệ thống đa đảng và cơ quan chính phủ được bầu trải qua một mạng lưới hệ thống đa phần chế. Kể từ khi độc lập, cầm quyền tại Malaysia là một liên minh đa đảng được gọi là Barisan Nasional. [ 35 ]
Tòa nhà Perdana Putra tại Putrajaya, tổng hợp văn phòng của Thủ tướng Malaysia .Mỗi bang có một QH đơn viện, những nghị viên được bầu từ những đơn vị chức năng bầu cử một ghế. Người đứng đầu những chính phủ nước nhà bang là những thủ hiến ( Chief Minister ), [ 35 ] họ là những thành viên QH và đến từ đảng chiếm hầu hết trong QH. Tại những bang có quân chủ kế tập, thủ hiến theo thường lệ cần phải là người Mã Lai, do quân chủ chỉ định theo tiến cử của thủ tướng. [ 57 ] Các cuộc bầu cử nghị viện được tổ chức triển khai 5 năm một lần. [ 35 ] Các cử tri ĐK 21 tuổi hoặc lớn hơn hoàn toàn có thể bỏ phiếu để bầu những thành viên của Hạ viện, và bầu những thành viên QH bang ở hầu hết những bang. Bầu cử không bắt buộc. [ 58 ] Ngoại trừ Sarawak, cuộc bầu cử cấp bang tại những khu vực còn lại diễn ra đồng thời với bầu cử liên bang. [ 55 ]Quyền hành pháp được trao cho Nội các do thủ tướng chỉ huy. Thủ tướng phải là thành viên của hạ viện, được Quốc vương chuẩn thuận, nhận được đa phần ủng hộ tại nghị viện. Nội các được lựa chọn từ lưỡng viện QH liên bang. [ 35 ] Thủ tướng là người đứng đầu nội các và cũng là người đứng đầu chính phủ nước nhà. [ 55 ]Hệ thống pháp lý Malaysia dựa trên thông luật Anh. [ 35 ] Mặc dù cơ quan tư pháp độc lập về triết lý, tuy nhiên sự độc lập của chúng bị đặt dấu hỏi và việc chỉ định những thẩm phán thiếu nghĩa vụ và trách nhiệm báo cáo giải trình và tính minh bạch. [ 59 ] Tòa án tối cao trong mạng lưới hệ thống tư pháp là Tòa án Liên bang, sau đó là Tòa thượng tố và hai Tòa cao đẳng, một cho Malaysia bán đảo và một cho Đông Malaysia. Malaysia cũng có một tòa án nhân dân đặc biệt quan trọng để xét xử những vụ án do Quốc vương đưa ra hoặc chống lại Quốc vương. [ 60 ] Các tòa án nhân dân Syariah tách biệt với những TANDTC dân sự, những tòa này vận dụng luật Sharia trong những vụ án tương quan đến người Hồi giáo Malaysia [ 61 ] và quản lý và vận hành song song với mạng lưới hệ thống tòa án nhân dân thế tục. [ 62 ] Đạo luật An ninh Nội địa được cho phép giam giữ không cần xét xử, và án tử hình được vận dụng cho những tội như kinh doanh ma túy. [ 63 ]

Sắc tộc có ảnh hưởng lớn trong chính trị Malaysia, nhiều chính đảng dựa trên nền tảng dân tộc.[35] Các hành động quả quyết như Chính sách Kinh tế mới[50] và thay thế nó là Chính sách Phát triển Quốc gia, được thực hiện nhằm thúc đẩy địa vị của bumiputera, bao gồm người Mã Lai và các bộ lạc bản địa, trước những người phi bumiputera như người Malaysia gốc Hoa và người Malaysia gốc Ấn.[64] Các chính sách này quy định ưu đãi cho bumiputera trong việc làm, giáo dục, học bổng, kinh doanh, tiếp cận nhà giá rẻ hơn và hỗ trợ tiết kiệm. Tuy nhiên, nó gây ra oán giận rất lớn giữa các dân tộc.[65]

Quan hệ đối ngoại và quân sự chiến lược[sửa|sửa mã nguồn]

Malaysia là một thành viên sáng lập của Thương Hội những vương quốc Khu vực Đông Nam Á ( ASEAN ) [ 66 ] Tổ chức Hợp tác Hồi giáo ( OIC ), [ 67 ] và cũng tham gia vào nhiều tổ chức triển khai quốc tế như Liên Hiệp Quốc, [ 68 ] Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, [ 69 ] và Phong trào không link ( NAM ). [ 70 ] Malaysia từng giữ chức quản trị ASEAN, OIC, và NAM. [ 35 ] Do là một cựu thuộc địa của Anh Quốc, Malaysia cũng là một thành viên của Thịnh vượng chung những vương quốc. [ 71 ] Kuala Lumpur là khu vực diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm 2005. [ 72 ]
Vệ binh vương thất ngoài cổng chính cung Istana Negara tại Kuala Lumpur .Chính sách ngoại giao của Malaysia về chính thức là dựa trên nguyên tắc trung lập và duy trì những quan hệ độc lập với tổng thể những vương quốc, bất kể mạng lưới hệ thống chính trị của vương quốc đó. [ 73 ] nhà nước đặt ưu tiên cao so với bảo mật an ninh và không thay đổi của Khu vực Đông Nam Á, [ 72 ] và nỗ lực tăng trưởng hơn nữa mối quan hệ với những vương quốc khác trong khu vực. Về phương diện lịch sử vẻ vang, cơ quan chính phủ cố gắng nỗ lực khắc họa Malaysia là một vương quốc Hồi giáo văn minh [ 73 ] trong khi tăng cường quan hệ với những vương quốc Hồi giáo khác. [ 72 ] Trong chủ trương của Malaysia, có một nguyên tắc kiên trì là chủ quyền lãnh thổ vương quốc và quyền của một vương quốc trong việc trấn áp những việc làm nội bộ. [ 55 ]nhà nước Malaysia theo chủ nghĩa thực dụng trong chủ trương so với những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, xử lý những tranh chấp theo một số ít chiêu thức, ví dụ điển hình như đưa vấn đề ra Tòa án Công lý Quốc tế. [ 74 ] Nhiều vương quốc trong khu vực tranh chấp chủ quyền lãnh thổ so với quần đảo Trường Sa. Brunei và Malaysia vào năm 2008 công bố kết thúc công bố chủ quyền lãnh thổ so với những vùng đất của nhau, và xử lý những yếu tố tương quan đến biên giới trên biển. Philippines có công bố chủ quyền lãnh thổ không thi hành so với Sabah. Hoạt động tái tạo đất của Nước Singapore gây ra căng thẳng mệt mỏi giữa hai bên, và Malaysia cũng có tranh chấp biên giới trên biển với Indonesia. [ 75 ]Malaysia chưa từng công nhận Israel và không có quan hệ ngoại giao với vương quốc này. [ 76 ] Malaysia ủng hộ can đảm và mạnh mẽ Nhà nước Palestine. [ 77 ] Lực lượng gìn giữ tự do của Malaysia hiện hữu tại Liban [ 78 ] và Malaysia góp phần vào nhiều thiên chức gìn giữ tự do khác của Liên Hiệp Quốc. [ 35 ] [ 79 ]Lực lượng Vũ trang Malaysia gồm ba nhánh là Hải quân Hoàng gia Malaysia, Lục quân Malaysia, và Không quân Hoàng gia Malaysia. Malaysia không thi hành chính sách nghĩa vụ và trách nhiệm quân sự chiến lược, độ tuổi thiết yếu để thực thi quân sự chiến lược tự nguyện là 18. Quân đội sử dụng 1,9 % GDP của vương quốc, và sử dụng 1,23 % nhân lực của Malaysia. [ 80 ]Thỏa thuận phòng thủ năm nước là một sáng tạo độc đáo bảo mật an ninh khu vực sống sót trong gần 40 năm, tương quan đến những cuộc rèn luyện quân sự chiến lược chung được tổ chức triển khai giữa Malaysia, Nước Singapore, nước Australia, New Zealand, và Anh Quốc. [ 81 ] Các cuộc tuyện tập quân sự chiến lược và tập trận chung được tổ chức triển khai với Indonesia trong nhiều năm. [ 82 ] Malaysia và Philippines đồng ý chấp thuận tổ chức triển khai rèn luyện bảo mật an ninh chung nhằm mục đích bảo vệ biên giới hàng hải và xử lý những yếu tố như nhập cư phạm pháp. [ 83 ]
Malaysia là vương quốc lớn thứ 67 trên quốc tế về diện tích quy hoạnh đất liền, với 329.847 km2 ( 127.355 dặm vuông Anh ). Tây Malaysia có biên giới trên bộ với xứ sở của những nụ cười thân thiện, Đông Malaysia có biên giới trên bộ với Indonesia và Brunei. [ 84 ] Malaysia liên kết với Nước Singapore trải qua một đường đắp cao hẹp và một cầu. Malaysia có biên giới trên biển với Nước Ta [ 85 ] và Philippines. [ 86 ] Biên giới trên bộ được xác lập phần nhiều dựa trên những đặc thù địa chất, ví dụ điển hình như sông Perlis, sông Golok và kênh Pagalayan, trong khi 1 số ít biên giới trên biển đang là chủ đề tranh chấp. [ 84 ] Brunei phần nhiều bị Malaysia bao quanh, [ 87 ] bang Sarawak của Malaysia chia Brunei thành hai phần. Malaysia là vương quốc duy nhất có chủ quyền lãnh thổ nằm cả trên lục địa châu Á và quần đảo Mã Lai. [ 88 ] Điểm cực nam của lục địa châu Á là Tanjung Piai, thuộc bang nam bộ Johor. [ 89 ] Eo biển Malacca nằm giữa hòn đảo Sumatra và Malaysia bán đảo, đây là một trong những tuyến đường quan trọng nhất trong thương mại toàn thế giới. [ 90 ]
Bãi biển trên hòn đảo Tioman ở phía đông bán đảo Mã Lai .Hai phần của Malaysia tách nhau qua biển Đông, tuy nhiên hai phần này có cảnh sắc phần đông là tương tự như nhau với những đồng bằng duyên hải rồi cao lên đồi và núi. [ 84 ] Malaysia bán đảo chiếm 40 % diện tích quy hoạnh đất liền của Malaysia, [ 88 ] trải dài 740 km ( 460 mi ) từ bắc xuống nam, và có chiều rộng tối đa là 322 km ( 200 mi ). [ 91 ] Dãy Titiwangsa phân loại bờ biển đông và tây tại Malaysia bán đảo, [ 92 ] dãy núi này là một phần của hàng loạt dãy núi chạy từ phần TT của bán đảo. [ 88 ] Các dãy núi này vẫn có rừng bao trùm sum sê, [ 93 ] và có cấu trúc hầu hết gồm đá hoa cương và những loại đá lửa khác. Nhiều phần trong đó bị xói mòn, tạo thành cảnh sắc karst. [ 88 ] Dãy núi là đầu nguồn của 1 số ít mạng lưới hệ thống sông tại Malaysia bán đảo. [ 93 ] Các đồng bằng duyên hải bao quanh bán đảo, có chiều rộng tối đa là 50 kilômét ( 31 mi ), và bờ biển của phần bán đảo dài 1.931 km ( 1.200 mi ), tuy nhiên những bến cảng chỉ có ở bờ phía tây. [ 91 ]Đông Malaysia nằm trên hòn đảo Borneo, có bờ biển dài 2.607 km ( 1.620 mi ). [ 84 ] Khu vực này gồm có những miền ven biển, đồi và thung lũng, và nội lục đồi núi. [ 88 ] Dãy Crocker trải dài về phía bắc từ Sarawak, [ 88 ] phân loại bang Sabah. Trên dãy này có núi Kinabalu với cao độ 4.095,2 m ( 13.436 ft ), [ 94 ] là núi cao nhất Malaysia. Núi Kinabalu được bảo vệ trong khuôn khổ Vườn vương quốc Kinabalu – một di sản quốc tế của UNESCO. [ 95 ] Các dãy núi cao nhất tạo thành biên giới giữa Malaysia và Indonesia. quần thể hang Mulu tại Sarawak nằm trong số những mạng lưới hệ thống hang lớn nhất trên quốc tế. [ 88 ]Xung quanh hai phần của Malaysia là một số ít hòn hòn đảo, lớn nhất trong số đó là hòn đảo Banggi. [ 96 ] Malaysia có khí hậu xích đạo, điểm đặc trưng là gió mùa tây nam ( tháng 4 đến tháng 10 ) và gió mùa đông bắc ( tháng 10 đến tháng 2 ). [ 91 ] Các vùng biển xung quanh giúp điều hòa nhiệt độ cho Malaysia. [ 88 ] Ẩm độ thường cao, và lượng mưa trung bình hàng năm là 250 cm ( 98 in ). [ 91 ] Khí hậu tại Bán đảo và Đông bộ độc lạ, thời tiết Bán đảo chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp từ gió thổi từ lục địa, trong khi Đông bộ có khí hậu mang tính hải dương hơn. Các khí hậu địa phương hoàn toàn có thể phân thành : vùng cao, vùng thấp và vùng duyên hải. Biến đổi khí hậu hoàn toàn có thể ảnh hưởng tác động đến mực nước biển và lượng mưa, tăng rủi ro tiềm ẩn lũ lụt và dẫn đến hạn hán. [ 88 ]

Đa dạng sinh học[sửa|sửa mã nguồn]

Malaysia ký kết Công ước phong phú sinh vật học Rio vào ngày 12 tháng 6 năm 1993, và trở thành một bên của công ước vào ngày 24 tháng 6 năm 1994. [ 97 ] Sau đó, Malaysia đưa ra một kế hoạch kế hoạch và hành vi phong phú sinh vật vương quốc, được công ước công nhận vào ngày 16 tháng 4 năm 1998. [ 98 ] Malaysia là một vương quốc phong phú sinh vật siêu cấp với một lượng lớn những loài và có mức độ loài đặc hữu cao. [ 99 ] Theo ước tính, Malaysia có 20 % số loài động vật hoang dã trên quốc tế. [ 100 ] Mức độ loài đặc hữu cao được phát hiện tại những khu rừng phong phú ở vùng núi Borneo, những loài tại đây bị cô lập với những loài khác ở những khu rừng đất thấp. [ 88 ]
Malaysia là một nền kinh tế thị trường khuynh hướng nhà nước tương đối mở và công nghiệp hóa mới. [ 101 ] [ 102 ] Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hướng dẫn hoạt động giải trí kinh tế tài chính trải qua những dự án Bất Động Sản kinh tế tài chính vĩ mô, tuy nhiên vai trò này đang giảm xuống. Malaysia chiếm hữu một trong những hồ sơ kinh tế tài chính tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5 % mỗi năm trong tiến trình từ 1957 đến 2005. [ 35 ] Năm 2019, GDP của Malaysia là khoảng chừng 365 tỷ đô la Mỹ, là nền kinh tế tài chính lớn thứ ba trong ASEAN, lớn thứ 11 châu Á và lớn thứ 33 trên quốc tế. [ 103 ] Năm 1991, Thủ tướng Malaysia đương thời là Mahathir Mohamad phác thảo ý tưởng sáng tạo của ông trong ” Tầm nhìn 2020 “, theo đó Malaysia sẽ trở thành một quốc gia công nghiệp hóa tự cung tự túc vào năm 2020. [ 104 ] Thủ tướng thứ sáu là Najib Razak nói rằng Malaysia sẽ đạt đến thực trạng nước tăng trưởng vào năm 2018, sớm hơn so với tiềm năng vào năm 2020, ông đưa vào thực thi hai chương trình là Chương trình quy đổi cơ quan chính phủ và Chương trình quy đổi kinh tế tài chính. [ 105 ]Trong thập niên 1970, nền kinh tế tài chính dựa đa phần vào khai mỏ và nông nghiệp của Malaysia khởi đầu quy đổi hướng đến một nền kinh tế tài chính đa nghành hơn. Từ thập niên 1980, nghành nghề dịch vụ công nghiệp, với góp vốn đầu tư ở mức cao, dẫn dắt tăng trưởng của vương quốc. [ 35 ] [ 106 ] Sau Khủng hoảng kinh tế tài chính châu Á 1997, kinh tế tài chính Malaysia phục sinh sớm hơn những vương quốc láng giềng, và kể từ đó hồi sinh mức của thời kỳ tiền khủng hoảng cục bộ với GDP trung bình đầu người là 14.800 đô la. [ 107 ] [ 108 ] Bất bình đẳng kinh tế tài chính sống sót giữa những dân tộc bản địa khác nhau, người Hoa chiếm khoảng chừng một phần ba dân số tuy nhiên lại chiếm 70 % giá trị vốn hóa thị trường của vương quốc. [ 109 ]
Malaysia là một trong những quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất quốc tếThương mại quốc tế của Malaysia có thuận tiện do nằm sát tuyến đường tàu thủy qua eo biển Malacca, và sản xuất là nghành then chốt. [ 110 ] [ 111 ] [ 112 ] Malaysia là một nước xuất khẩu tài nguyên vạn vật thiên nhiên và nông sản, dầu mỏ là loại sản phẩm xuất khẩu chính. [ 35 ] Malaysia từng là nhà phân phối lớn nhất những mẫu sản phẩm thiếc, [ 113 ] cao su đặc và dầu cọ trên quốc tế. Lĩnh vực sản xuất có tác động ảnh hưởng lớn trong kinh tế tài chính vương quốc, [ 114 ] tuy nhiên cấu trúc kinh tế tài chính của Malaysia đang chuyển ra khỏi thực trạng này. [ 115 ] Malaysia vẫn là một trong những đơn vị sản xuất dầu cọ lớn nhất quốc tế. [ 116 ]nhà nước thôi thúc sự ngày càng tăng du lịch đến Malaysia trong một nỗ lực nhằm mục đích đa dạng hóa kinh tế tài chính và giảm sự nhờ vào vào hàng xuất khẩu. Kết quả là du lịch trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn thứ ba của Malaysia, tuy nhiên nó đang bị rình rập đe dọa do những ảnh hưởng tác động xấu đi từ ngành công nghiệp đang tăng trưởng, với một lượng lớn khí thải và nước thải cùng với nạn phá rừng. [ 117 ] Từ năm 2013 – năm trước, Malaysia được xếp là một trong những nơi tốt nhất để nghỉ hưu trên quốc tế, đứng vị trí thứ 3 theo Chỉ số hưu trí toàn thế giới. Đây là một trong những tác dụng của chương trình ” Malaysia My Second Home “, theo đó người ngoại bang được phép sống tại Malaysia theo một thị thực trường trú lâu đến 10 năm. [ 118 ]Malaysia tăng trưởng thành một TT của ngân hàng nhà nước Hồi giáo, và là vương quốc có số nữ lao động cao nhất trong ngành này. [ 119 ] Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức cũng tăng trưởng. [ 115 ] Để tạo ra năng lực phòng thủ tự lực và tương hỗ tăng trưởng vương quốc, Malaysia triển khai tư hữu hóa một số ít cơ sở quân sự chiến lược của mình trong thập niên 1970. Hành động tư hữu hóa tạo ra ngành công nghiệp quốc phòng, đến năm 1999 thì nằm dưới sự quản trị của Hội đồng công nghiệp quốc phòng Malaysia. nhà nước liên tục thôi thúc nghành nghề dịch vụ này và tính cạnh tranh đối đầu của nó, tích cực tiếp thị công nghiệp quốc phòng. [ 120 ]Bộ Khoa học, Công nghệ và Cách tân pháp luật những chủ trương khoa học tại Malaysia. Malaysia nằm trong số những nhà xuất khẩu lớn nhất quốc tế về thiết bị bán dẫn, thiết bị điện tử, loại sản phẩm công nghệ thông tin và tiếp thị quảng cáo. [ 35 ] Malaysia mở màn tăng trưởng chương trình khoảng trống một cách riêng rẽ vào năm 2002, [ 121 ] [ 122 ] và đến năm 2006, Nga đồng ý vận chuyển một người Malaysia lên Trạm ngoài hành tinh Quốc tế như là một phần trong thương vụ làm ăn 18 chiến đấu cơ Sukhoi Su-30MKM trị giá nhiều tỷ đô la giữa hai bên. [ 123 ] nhà nước Malaysia góp vốn đầu tư thiết kế những vệ tinh thông qua chương trình RazakSAT. [ 124 ]Người Malaysia gốc Hoa là thế lực nắm huyết mạch kinh tế tài chính của Malaysia, thế cho nên vị thế và quyền lợi và nghĩa vụ của người Malaysia gốc Hoa rất lớn trên chính trường cũng như trong kinh doanh thương mại, giáo dục [ 125 ]. Thống kê năm 2000 cho thấy người Malaysia gốc Hoa chiếm hữu hơn 62 % CP trên kinh doanh thị trường chứng khoán Malaysia, mặc dầu người Malaysia gốc Hoa chiếm chưa đầy 1/4 dân số [ 126 ]. Năm 2010, người Malaysia gốc Hoa chi phối trong những nghành thương nghiệp và mậu dịch, kiếm soát giao động 70 % kinh tế tài chính Malaysia. [ 127 ]

Cơ sở hạ tầng[sửa|sửa mã nguồn]

Malaysia có hạ tầng thuộc hàng tăng trưởng nhất tại châu Á. [ 128 ] Hệ thống viễn thông chỉ đứng sau Nước Singapore tại Khu vực Đông Nam Á, với 4,7 triệu thuê bao điện thoại thông minh cố định và thắt chặt và trên 30 triệu thuê bao điện thoại di động. [ 129 ] [ 130 ] Malaysia có bảy cảng quốc tế, cảng chính là cảng Klang. Malaysia có 200 khu công nghiệp cùng với những chuyên khu như Khu Công nghệ Malaysia hay Khu Công nghệ cao Kulim. [ 131 ] Trong thời kỳ thuộc địa, sự tăng trưởng đa phần tập trung chuyên sâu những thành thị hùng mạnh về mặt kinh tế tài chính và tại những khu vực hình thành mối chăm sóc về bảo mật an ninh. Mặc dù những khu vực nông thôn được chú trọng, tuy nhiên vẫn tụt hậu so với những khu vực như bờ Tây của Malaysia bán đảo. [ 132 ]Hệ thống đường đi bộ của Malaysia trải dài 98.721 kilômét ( 61.342 mi ) và có 1.821 kilômét ( 1.132 mi ) đường cao tốc. [ 84 ] Xa lộ dài nhất Malaysia là xa lộ Nam-Bắc với chiều dài trên 800 kilômét ( 497 mi ) từ biên giới với xứ sở của những nụ cười thân thiện đến biên giới với Nước Singapore. Hệ thống đường đi bộ tại Đông Malaysia kém tăng trưởng hơn và có chất lượng thấp hơn so với Malaysia bán đảo. [ 133 ] Malaysia có 118 trường bay, trong đó 38 có đường sân bay được lát. Hãng hàng không vương quốc chính thức là Malaysia Airlines, phân phối dịch vụ hàng không quốc tế và quốc nội. Hệ thống đường tàu do nhà nước quản lý và vận hành, có tổng chiều dài 1.849 kilômét ( 1.149 mi ). [ 84 ] Các mạng lưới hệ thống đường tàu nhẹ trên cao có giá tương đối rẻ và được sử dụng tại một số ít thành phố như Kuala Lumpur. [ 134 ]Theo truyền thống lịch sử, sản xuất nguồn năng lượng tại Malaysia dựa vào dầu và khí đốt vạn vật thiên nhiên. [ 135 ] Quốc gia có hiệu suất phát điện 13 GW. [ 136 ] Tuy nhiên, Malaysia chỉ có dự trữ khí đốt vạn vật thiên nhiên 33 năm, và dự trữ dầu 19 năm, trong khi nhu yếu nguồn năng lượng đang ngày càng tăng. Nhằm ứng phó, cơ quan chính phủ tăng trưởng những nguồn nguồn năng lượng tái tạo. [ 135 ] 16 % nguồn cung điện năng đến từ thủy điện, 84 % còn lại đến từ nhiệt điện. [ 136 ] Công ty quốc hữu Petronas chi phối ngành dầu khí Malaysia. [ 137 ]

Theo điều tra dân số năm 2010, dân số Malaysia là 28.334.135,[4] là quốc gia đông dân thứ 42 trên thế giới. Dân số Malaysia bao gồm nhiều dân tộc. Năm 2010, các công dân Malaysia chiếm 91,8% dân số,trong đó bumiputera là 67,4%,.[138] Theo định nghĩa trong hiến pháp, người Mã Lai là những tín đồ Hồi giáo thực hiện các phong tục và văn hóa Mã Lai. Họ đóng vai trò chi phối về mặt chính trị.[139] Thân thế Bumiputera cũng được trao cho các dân tộc bản địa, trong đó có người Thái, người Khmer, người Chăm và dân tộc bản địa tại Sabah và Sarawak. Những người Bumiputera phi Mã Lai chiếm hơn một nửa dân số bang Sarawak và hơn hai phần ba dân số bang Sabah.[84] Các nhóm thổ dân cũng hiện diện trên phần Malaysia bán đảo song với số lượng ít hơn nhiều, họ được gọi chung là Orang Asli.[140] Luật về cấp thân thế bumiputera khác biệt giữa các bang.[141]

Mật độ dân số tại Malaysia ( người / km² )

Các nhóm thiểu số khác không có thân thế bumiputera chiếm một lượng khá lớn trong dân số. 24,6% dân số Malaysia có nguồn gốc Trung Quốc, trong khi những người có nguồn gốc Ấn Độ chiếm 7,3% dân số.[138] Người Hoa có lịch sử chi phối trong cộng đồng kinh doanh và thương mại, và chiếm đa số trong dân số đảo Penang, các thành phố George Town, Yong Peng, Kota Kinabalu, Cameron Highlands, Butterworth; cũng như chiếm khá lớn dân số Kuala Lumpur, Johor Bahru, … Người Ấn Độ nhập cư đến Malaysia vào cuối thế kỷ XIX.[142] Phần lớn cộng đồng người gốc Ấn Độ là người Tamil.[143]

Quyền công dân Malaysia không tự động cấp cho những người sinh ra tại Malaysia, song một trẻ em sinh tại ngoại quốc có cha mẹ là người Malaysia thì sẽ có quyền công dân Malaysia. Sở hữu quốc tịch kép không được phép tại Malaysia.[144] Công dân tại các bang Sabah và Sarawak trên phần đảo Borneo của Malaysia bị phân biệt với công dân của Malaysia bán đảo vì mục đích nhập cư. Mỗi công dân được cấp một thẻ nhận dạng chíp nhân trắc học thông minh được gọi là MyKad ở tuổi 12, và phải luôn mang theo thẻ.[145]

Trong hệ thống giáo dục tại Malaysia, mẫu giáo là không bắt buộc, giáo dục tiểu học 6 năm là bắt buộc, và giáo dục trung học 5 năm là tùy chọn.[146] Các trường học trong hệ thống tiểu học được phân thành hai loại: các trường tiểu học quốc gia dạy bằng tiếng Mã Lai, các trường thổ ngữ dạy bằng tiếng Hán hoặc tiếng Tamil.[147] Vào năm cuối trung học, các học sinh tham gia khảo thí Văn bằng giáo dục Malaysia.[148] Từ khi đưa vào chương trình dự khoa vào năm 1999, các học sinh hoàn thành chương trình 12 tháng tại các trường cao đẳng dự khoa có thể nhập học tại các đại học địa phương. Tuy nhiên, trong hệ thống dự khoa, chỉ 10% số chỗ dành cho các sinh viên phi bumiputera.[149]

Tỷ suất tử trận của trẻ sơ sinh năm 2009 là 6 ‰, và tuổi thọ trung bình vào năm 2009 là 75 năm. [ 150 ] Với tiềm năng tăng trưởng Malaysia thành một điểm đến du lịch y tế, 5 % ngân sách tăng trưởng nghành xã hội của cơ quan chính phủ được dành cho chăm nom sức khỏe thể chất. [ 151 ] Dân số tập trung chuyên sâu tại Malaysia bán đảo [ 152 ] với 20 triệu người trong xê dịch 28 triệu dân cư Malaysia. [ 35 ] 70 % dân cư sống tại đô thị. [ 84 ] Kuala Lumpur là Thành Phố Hà Nội [ 84 ] và thành phố lớn nhất tại Malaysia, [ 153 ] cũng như là TT thương mại và kinh tế tài chính lớn. [ 154 ] Putrajaya là một thành phố được hình thành có mục tiêu từ năm 1999, và là nơi đặt trụ sở của cơ quan chính phủ, [ 155 ] do nhiều nhánh hành pháp và tư pháp của chính phủ nước nhà liên bang chuyển tới thành phố này nhằm mục đích giảm bớt sự đông đúc ngày càng tăng tại Kuala Lumpur. [ 156 ]Do sự nổi lên của những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, [ 157 ] ước tính có trên 3 triệu công nhân nhập cư tại Malaysia ; tức khoảng chừng 10 % dân số. [ 158 ]

Tôn giáo tại Malaysia ( 2010 )

 Hồi giáo (61.3%)

 Phật giáo (19.8%)

 Cơ Đốc giáo (9.2%)

 Hindu (6.3%)

 Tôn giáo truyền thống Trung Hoa (1.3%)

 Vô thần (0.7%)

 Khác (1.4%)

Hiến pháp Malaysia bảo vệ quyền tự do tôn giáo trong khi xác lập Hồi giáo là quốc giáo. [ 159 ] Theo số liệu từ Điều tra dân số và nhà ở năm 2010, có sự tương liên cao giữa dân tộc bản địa và tôn giáo. Xấp xỉ 61,3 % dân số thực hành thực tế Hồi giáo, 19,8 % thực hành thực tế Phật giáo, 9,2 % thực hành thực tế Ki-tô giáo, 6,3 % thực hành thực tế Ấn Độ giáo và 1,3 % thực hành thực tế Nho giáo, Đạo giáo và những tôn giáo truyền thống cuội nguồn Trung Quốc. 0,7 % công bố là người không tôn giáo và 1,4 % còn lại thực hành thực tế những tôn giáo khác hoặc không cung ứng thông tin nào. [ 4 ] Trong số Fan Hâm mộ Hồi giáo, Fan Hâm mộ phái Sunni chiếm hầu hết trong khi Fan Hâm mộ Hồi giáo phi giáo phái là nhóm đông thứ hai với 18 %. [ 160 ]
Thánh đường Hồi giáo Sultan Salahuddin Abdul Aziz tại Shah Alam, Selangor .

Theo Hiến pháp, toàn bộ người Mã Lai được xem là người Hồi giáo.[159] Số liệu từ cuộc điều tra dân số năm 2010 cho thấy rằng 83,6% người Trung Quốc xác định bản thân là Phật tử, và một lượng lớn các tín đồ theo Đạo giáo (3,4%) và Ki-tô giáo (11,1%), cùng với một nhóm nhỏ người Hồi sinh sống tại các khu vực như Penang. Phần lớn người Ấn Độ theo Ấn Độ giáo (86,2%), với một thiểu số quan trọng xác định bản thân là tín đồ Ki-tô giáo (6,0%) hay Hồi giáo (4,1%). Ki-tô giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong cộng đồng bumiputera phi Mã Lai (46,5%), và thêm 40,4% xác định bản thân là người Hồi giáo.[4]

Người Hồi giáo có nghĩa vụ phải tuân theo phán quyết của các tòa án Syariah trong các vấn đề liên quan đến tôn giáo của họ. Các thẩm phán Hồi giáo được cho là theo trường phái pháp luật Shafi`i của Hồi giáo, madh’hab chính của Malaysia.[161] Quyền hạn của các tòa án Shariah bị giới hạn trong cộng đồng người Hồi giáo trong các vấn đề như kết hôn, thừa kế, ly dị, bội giáo, cải đạo. Các tội và vi phạm dân sự khác thuộc thẩm quyền của các tòa án công dân, các tòa án công dân không thụ lý các vấn đề liên quan đến thực hành Hồi giáo.[162]

Ngôn ngữ chính thức tại Malaysia là tiếng Malaysia, [ 84 ] đây là một hình thái tiêu chuẩn hóa của tiếng Mã Lai. [ 163 ] Về mặt lịch sử dân tộc, tiếng Anh là ngôn từ hành chính trên trong thực tiễn, tiếng Mã Lai chiếm lợi thế sau những cuộc bạo loạn sắc tộc năm 1969. [ 164 ] Theo Đạo luật ngôn từ vương quốc năm 1967, ” chữ quốc ngữ sẽ là vần âm Rumi [ Latin ] : pháp luật này sẽ không ngăn cấm việc sử dụng chữ Mã Lai, còn được gọi phổ cập hơn là chữ Jawi, so với quốc ngữ. ” [ 165 ]Tiếng Anh vẫn là ngôn từ thứ hai đang dùng, Đạo luật ngôn từ năm 1967 được cho phép sử dụng tiếng Anh trong 1 số ít mục tiêu chính thức, [ 165 ] và tiếng Anh đóng vai trò là ngôn từ giảng dạy toán và khoa học trong hàng loạt những trường công. [ 166 ] [ 167 ] Tiếng Anh Malaysia là một hình thái của tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Anh Anh. Tiếng Anh Malaysia được sử dụng thoáng rộng trong thanh toán giao dịch cùng với tiếng bồi bắt nguồn từ tiếng Anh là Manglish. nhà nước ngăn cản việc sử dụng tiếng Mã Lai phi tiêu chuẩn. [ 168 ] [ 169 ]Nhiều ngôn từ khác được sử dụng tại Malaysia, tại vương quốc này có người nói 137 thứ ngôn từ đang sống sót. [ 170 ] Malaysia bán đảo có người nói 41 ngôn từ trong số đó. [ 171 ] Các bộ lạc địa phương tại Đông Malaysia có ngôn từ riêng của họ, chúng có liên hệ tuy nhiên thuận tiện phân biệt với tiếng Mã Lai. Tiếng Iban là ngôn từ bộ lạc chính tại Sarawak trong khi những người địa phương tại Sabah nói những ngôn từ Dusun. [ 172 ] Người Malaysia gốc Trung Quốc hầu hết nói những phương ngôn có nguồn gốc từ những tỉnh Hoa Nam. Phương ngôn tiếng Hán phổ cập nhất tại Malaysia là tiếng Quảng Đông, Quan thoại, tiếng Phúc Kiến, tiếng Khách Gia, tiếng Hải Nam và tiếng Phúc Châu. Phần lớn người nói tiếng Tamil là người Tamil, họ là nhóm chiếm hầu hết trong hội đồng người Malaysia gốc Ấn. Các ngôn từ Nam Á khác cũng được nói thông dụng tại Malaysia, cùng với tiếng Xứ sở nụ cười Thái Lan. [ 84 ] Một số lượng nhỏ người Malaysia có nguồn gốc da trắng và nói những ngôn từ bồi, như tiếng bồi Malacca dựa trên tiếng Bồ Đào Nha, [ 173 ] và tiếng Chavacano dựa trên tiếng Tây Ban Nha. [ 174 ]
Malaysia là một xã hội đa dân tộc bản địa, đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Văn hóa bắt đầu của khu vực bắt nguồn từ những bộ lạc địa phương, cùng với những người Mã Lai nhập cư sau đó. Văn hóa Malaysia sống sót những tác động ảnh hưởng đáng kể từ văn hóa truyền thống Trung Quốc và văn hóa truyền thống Ấn Độ, bắt nguồn từ khi Open ngoại thương. Các tác động ảnh hưởng văn hóa truyền thống khác đến từ văn hóa truyền thống Ba Tư, Ả Rập và Anh Quốc. Do cấu trúc của chính phủ nước nhà, cộng thêm thuyết khế ước xã hội, có sự đồng nhất văn hóa truyền thống tối thiểu so với những dân tộc thiểu số. [ 175 ]Năm 1971, chính phủ nước nhà phát hành một ” Chính sách văn hóa truyền thống vương quốc “, xác lập văn hóa truyền thống Malaysia. Theo đó, văn hóa truyền thống Malaysia phải dựa trên những dân tộc bản địa địa phương của Malaysia, hoàn toàn có thể dung nạp những yếu tố tương thích từ những văn hóa truyền thống khác, và rằng Hồi giáo phải đóng một vai trò trong đó. [ 176 ] Nó cũng thôi thúc tiếng Mã Lai ở cao hơn những ngôn từ khác. [ 177 ] Sự can thiệp này của chính phủ nước nhà vào văn hóa truyền thống khiến những dân tộc bản địa phi Mã Lai bất bình và cảm thấy quyền tự do văn hóa truyền thống của họ bị giảm đi. Các hiệp hội của người Hoa và người Ấn đều đệ trình những bị vong lục lên chính phủ nước nhà, buộc tội chính phủ nước nhà chế định một chủ trương văn hóa truyền thống phi dân chủ. [ 176 ]Tồn tại một số ít tranh chấp văn hóa truyền thống giữa Malaysia và những vương quốc láng giềng, đặc biệt quan trọng là Indonesia. Hai vương quốc có một di sản văn hóa truyền thống tương đương, có chung nhiều truyền thống cuội nguồn và khuôn khổ. Tuy nhiên, diễn ra tranh chấp về nhiều điều, từ những món ăn cho đến quốc ca của Malaysia. Tại Indonesia có tình cảm can đảm và mạnh mẽ về việc bảo vệ di sản văn hóa truyền thống vương quốc. [ 178 ] nhà nước Malaysia và cơ quan chính phủ Indonesia có sự tiếp xúc nhằm mục đích xoa dịu 1 số ít căng thẳng mệt mỏi bắt nguồn từ trùng lặp văn hóa truyền thống. [ 179 ] Tình cảm này không phải là mạnh tại Malaysia, tại đây hầu hết đều công nhận nhiều giá trị văn hóa truyền thống là của chung. [ 178 ]Nghệ thuật truyền thống cuội nguồn Malaysia đa phần tập trung chuyên sâu quanh những nghành chạm khắc, dệt và bạc. [ 180 ] Nghệ thuật truyền thống lịch sử có khoanh vùng phạm vi từ những giỏ đan bằng tay thủ công tại vùng nông thôn cho đến ngân sức của những triều đình Mã Lai. Các đồ nghệ thuật thông dụng vao gồm dao găm ( kris ) trang sức đẹp, bộ giã hạt cau, vải dệt batik và songket. Người địa phương tại Đông Malaysia nổi tiếng với những mặt nạ bằng gỗ. [ 88 ] Mỗi dân tộc bản địa có nghệ thuật và thẩm mỹ trình diễn riêng không liên quan gì đến nhau, có ít sự trùng lặp giữa họ. Tuy nhiên, thẩm mỹ và nghệ thuật Mã Lai biểu lộ 1 số ít tác động ảnh hưởng của Bắc Ấn Độ do ảnh hưởng tác động lịch sử vẻ vang của Ấn Độ. [ 181 ]Nghệ thuật âm nhạc và trình diễn Mã Lai có vẻ như như bắt nguồn từ khu vực Kelantan – Pattani với những ảnh hưởng tác động từ Ấn Độ, Trung Quốc, Xứ sở nụ cười Thái Lan và Indonesia. Âm nhạc dựa trên những nhạc cụ gõ, [ 181 ] quan trọng nhất trong đó là gendang ( trống ). Có tối thiểu 14 loại trống truyền thống cuội nguồn. [ 182 ] Trống và những nhạc cụ gõ truyền thống cuội nguồn khác thường được làm từ những vật tư tự nhiên. [ 182 ] Âm nhạc về mặt truyền thống cuội nguồn được sử dụng để Giao hàng cho kể chuyện, những sự kiện kỷ niệm vòng đời, và những dịp như vụ gặt. [ 181 ] Nó từng được sử dụng làm một hình thức truyền thông online đường dài. [ 182 ] Tại Đông Malaysia, những bộ nhạc cụ bắt nguồn từ cồng như agung và kulintang được sử dụng thông dụng trong những dịp lễ như tang lễ và hôn lễ. [ 183 ] Các bộ nhạc cụ này cũng thông dụng tại những khu vực lân cận như tại Mindanao tại Philippines, Kalimantan tại Indonesia, và Brunei. [ 183 ]

Malaysia mạnh về truyền thống truyền miệng, loại hình này tồn tại từ trước khi văn bản xuất hiện tại khu vực, và tiếp tục tồn tại cho đến nay. Mỗi vương quốc hồi giáo Mã Lai hình thành các truyền thống văn học riêng, có ảnh hưởng từ các câu chuyện truyền miệng có từ trước và các câu chuyện đến cùng với Hồi giáo.[186] Tác phẩm văn học Mã Lai đầu tiên được viết bằng chữ Ả Rập. Bản văn Mã Lai đầu tiên được biết đến được khắc trên đá Terengganu, thực hiện vào năm 1303.[88] Văn học Trung Quốc và Ấn Độ trở nên phổ biến khi số người nói các ngôn ngữ này tăng lên tại Malaysia, và các tác phẩm xuất bản bản địa dựa trên ngôn ngữ từ các khu vực này bắt đầu được xuất bản vào thế kỷ XIX.[186] Tiếng Anh cũng trở thành một ngôn ngữ văn học phổ biến.[88] Năm 1971, chính phủ tiến hành bước đi nhằm hạn chế văn học bằng các ngôn ngữ khác. Văn học viết bằng tiếng Mã Lai được gọi là “văn học quốc gia của Malaysia”, văn học bằng các ngôn ngữ bumiputera khác được gọi là “văn học khu vực”, trong khi văn học viết bằng các ngôn ngữ khác được gọi là “văn học tầng lớp”.[177] Thơ Mã Lai có sự phát triển ở mức độ cao, sử dụng nhiều thể thơ, trong đó phổ biến là Hikayat, và pantun được truyền bá từ tiếng Mã Lai sang các ngôn ngữ khác.[186]

Ẩm thực của Malaysia phản ánh đặc thù đa dân tộc bản địa của vương quốc. [ 187 ] Nhiều nền văn hóa truyền thống đến từ bên trong vương quốc và những khu vực xung quanh có tác động ảnh hưởng lớn đến với nhà hàng Malaysia. Phần lớn ảnh hưởng tác động đến từ văn hóa truyền thống Mã Lai, Nước Trung Hoa, Ấn Độ, xứ sở của những nụ cười thân thiện, Java, và Sumatra, [ 88 ] hầu hết là do vương quốc là một phần của con đường hương liệu cổ đại. [ 188 ] Ẩm thực Malaysia rất tương đương với siêu thị nhà hàng Nước Singapore và Brunei, [ 189 ] và cũng mang những đặc thù tương tự như với ẩm thực ăn uống Philippines. [ 88 ] Các bang khác nhau có sự biến hóa về món ăn. [ 189 ]
Các báo chính của Malaysia thuộc chiếm hữu của cơ quan chính phủ và những chính đảng trong liên minh cầm quyền, [ 190 ] [ 191 ] tuy nhiên một số ít đảng trái chiều lớn cũng có báo riêng, chúng được bán công khai cùng với những báo chí truyền thông chính quy. Sự phân loại sống sót giữa tiếp thị quảng cáo tại hai phần của vương quốc. Truyền thông đặt tại Bán đảo kém ưu tiến so với những tin tức đến từ phía Đông, và thường xem những bang phía Đông như là những thuộc địa của Bán đảo. [ 192 ] Người ta đổ lỗi cho tiếp thị quảng cáo trong việc ngày càng tăng stress giữa Indonesia và Malaysia, mang đến cho người dân Malaysia một hình ảnh xấu về người Indonesia. [ 193 ] Malaysia có những nhật báo bằng tiếng Mã Lai, tiếng Anh, tiếng Trung, và tiếng Tamil. [ 192 ]

Malaysia cử hành một số ngày lễ và lễ hội trong năm, một số là ngày lễ toàn liên bang, và một số là ngày lễ của riêng từng bang. Các lễ hội khác do các nhóm dân tộc đặc thù cử hành, và ngày lễ chính của mỗi nhóm dân tộc chính được tuyên bố là ngày nghỉ công. Ngày nghỉ quốc gia được cử hành trang trọng nhất là Hari Merdeka (ngày Độc lập) vào 31 tháng 8, kỷ niệm sự kiện Liên hiệp bang Malaya độc lập vào năm 1957.[88] Ngày Malaysia được cử hành vào ngày 16 tháng 9 để kỷ niệm sự kiện thành lập liên bang vào năm 1963.[194] Ngày nghỉ quốc gia đáng chú ý khác là ngày Lao động (1 tháng 5) và sinh nhật Quốc vương.[88]

Các ngày nghỉ Hồi giáo nổi bật do Hồi giáo là quốc giáo; Hari Raya Puasa (cũng gọi là Hari Raya Aidilfitri, tên tiếng Mã Lai của Eid al-Fitr), Hari Raya Haji (cũng gọi là Hari Raya Aidiladha, tức Eid ul-Adha), Maulidur Rasul (sinh nhật của Tiên tri), và các ngày lễ khác được cử hành.[88] Người Malaysia gốc Hoa tổ chức các lễ hội như tết Trung Quốc và các lễ hội khác liên quan đến tín ngưỡng Trung Quốc truyền thống. Tín đồ Ấn Độ giáo tại Malaysia tổ chức Deepavali, lễ hội ánh sáng,[159] trong khi Thaipusam là một nghi thức tôn giáo và khi đó xuất hiện việc người hành hương từ khắp nước hội tụ về động Batu.[195] Cộng đồng Ki-tô giáo Malaysia tổ chức hầu hết các ngày lễ mà các Ki-tô hữu ở những nơi khác cử hành, đáng chú ý nhất là lễ Giáng sinh và Phục sinh. Người dân tại Đông Malaysia cũng tổ chức một lễ hội gặt hái mang tên Gawai.[196]

Các môn thể thao phổ cập tại Malaysia gồm bóng đá, cầu lông, khúc côn cầu, bóng gỗ, quần vợt, bóng quần, võ thuật, cưỡi ngựa, thuyền khơi, và trượt ván. [ 131 ] Bóng đá là môn thể thao thông dụng nhất tại Malaysia và vương quốc đang điều tra và nghiên cứu về năng lực ứng cử làm đồng chủ nhà của Cúp bóng đá quốc tế năm 2034. [ 197 ] Các trận đấu cầu lông lôi cuốn hàng nghìn người theo dõi, và kể từ năm 1948 thì Malaysia là một trong ba vương quốc từng giành chức vô địch Thomas Cup. [ 198 ] Liên đoàn bóng gỗ Malaysia được ĐK vào năm 1997. [ 199 ] Các thành viên của quân đội Anh Quốc đưa môn bóng quần đến Malaysia, cuộc tranh tài tiên phong được tổ chức triển khai vào năm 1939. [ 200 ] Thương Hội bóng quần Malaysia được hình thành vào ngày 25 tháng 6 năm 1972. [ 201 ] Đội tuyển khúc côn cầu nam vương quốc của Malaysia xếp hạng thứ 13 quốc tế vào tháng 11 năm 2013. [ 202 ] Cúp Khúc côn cầu quốc tế lần thứ ba và lần thứ 10 được tổ chức triển khai tại Kuala Lumpur. [ 203 ] Malaysia cũng có đường đua công thức 1 riêng là Đường đua quốc tế Sepang. Đường đua tổ chức triển khai giải Grand Prix tiên phong vào năm 1999. [ 204 ]Hội đồng Olympic Malaya được hình thành vào năm 1953, và được IOC công nhận vào năm 1954. Malaysia lần tiên phong tham gia Thế vận hội vào năm 1956 tại Melbourne. Hội đồng được đổi tên hành Hội đồng Olympic Malaysia vào năm 1964, và tham gia hầu hết những kỳ Thế vận hội kể từ khi sinh ra ( trừ Thế vận hội năm 1980 tại Moskva ). Số vận động viên lớn nhất mà Malaysia cử tham gia Thế vận hội là 57 trong Thế vận hội Mùa hè 1972. [ 205 ] Các vận động viên Malaysia giành được tổng số sáu huy chương Thế vận hội, trong đó có năm huy chương tại môn cầu lông. [ 206 ] Quốc gia tranh tài trong Đại hội thể thao Thịnh vượng chung kể từ năm 1950 với tên Malaya, và năm 1966 với tên Malaysia, đại hội từng được tổ chức triển khai tại Kuala Lumpur vào năm 1998. [ 207 ] [ 208 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Chính phủ
Thông tin chung
Du lịch
Giáo dục

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Showbiz