Danh sách nhà vô địch bóng đá Anh – Wikipedia tiếng Việt

Các nhà vô địch bóng đá Anh là những đội bóng giành chức vô địch hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; kể từ mùa 0969756783 giải đấu này có tên gọi là Giải Ngoại hạng Anh. Sau khi Hiệp hội bóng đá Anh biên soạn luật chuyên nghiệp hóa bóng đá vào năm 1885,[1] Football League được ra đời năm 1888 sau một loạt các buổi họp mặt do giám đốc của Aston Villa, ông William McGregor khởi xướng.[2] Vào cuối mùa 1888–89, Preston North End trở thành câu lạc bộ đầu tiên giành chức vô địch với thành tích bất bại.[3]

Trận Siêu Cúp Quốc gia 2020 không bán bản quyền truyền hình

Vốn được xem là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới, giải vô địch Anh chứng kiến những năm khởi tranh đầu tiên bị thống trị bởi các câu lạc bộ miền Bắc và Trung, những nơi mà màu sắc nhà nghề được áp đặt dễ dàng hơn so với miền Nam.[4] Vị thế số một của giải đấu càng được củng cố hơn vào năm 1892, khi giải Football Alliance được sáp nhập vào Football League.[5] Theo đó các câu lạc bộ của Alliance tập hợp để cùng tranh tài tại giải đấu mới mang tên Second Division, từ đây có thể hướng tới việc giành quyền lên chơi ở hạng đấu cao nhất. Đến tận năm 1931 mới có một câu lạc bộ từ miền Nam giành chức vô địch, đó là Arsenal của Herbert Chapman. Arsenal ghi được 127 trong cả mùa giải – kỷ lục dành cho đội vô địch (dù cho đội á quân Aston Villa lại ghi nhiều hơn một bàn, một kỷ lục của giải đấu cấp cao nhất).[6]

Quy định về mức lương trần cầu thủ bị gỡ bỏ vào năm 1961. Sự kiện này tạo nên bước ngoặt làm thay đổi cán cân quyền lực của các câu lạc bộ lớn.[7] Sự chú ý về mặt tài chính càng tác động lớn hơn từ năm 1992, khi các câu lạc bộ của First Division tách ra thành lập Giải Ngoại hạng Anh. Giải đấu này cũng soán ngôi của Football League First Division để trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh;[8] do hàng loạt những bản hợp đồng truyền hình béo bở hơn càng tăng dần, các câu lạc bộ hàng đầu càng trở nên giàu có theo một cách chưa từng có tiền lệ.[9] 5 nhà vô địch đầu tiên trong kỷ nguyên Ngoại hạng Anh – Arsenal, Blackburn Rovers, Chelsea, Manchester City và Manchester United – đều từng giành ít nhất một danh hiệu trước năm 1992. Leicester City lần đầu đăng quang vào năm 2016, trở thành câu lạc bộ đầu tiên và duy nhất vô địch Ngoại hạng Anh mà chưa từng đoạt danh hiệu First Division trước đó.

Tất cả các câu lạc bộ từng đăng quang ngôi quán quân đều vẫn còn hoạt động đến ngày nay và đều tranh tài tại 4 hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh. Sheffield Wednesday là đội bóng duy nhất đổi tên sau khi từng đoạt ngôi vương trước đó (họ đoạt ba trong bốn danh hiệu với cái tên The Wednesday)

Kích Thước Sân Bóng Đá Rộng Bao Nhiêu Mét Là Đạt Chuẩn?

Manchester United có tổng cộng 20 lần vô địch, nhiều hơn bất kì câu lạc bộ nào khác.[10] Kình địch của United là Liverpool xếp thứ hai với 19 lần đăng quang. Liverpool thống trị bóng đá Anh trong những thập niên 1970 và 1980, còn United thống trị xứ sương mù vào các thập niên 1990 và 2000 dưới triều đại của Sir Alex Ferguson. Arsenal đứng ở vị thứ ba với 13 chức vô địch đều đến sau năm 1930. Everton đứng thứ 4 với 9 danh hiệu. Aston Villa (7) và Sunderland (6) giành phần lớn danh hiệu trước Thế chiến thứ nhất. Huddersfield Town (1924–26), Arsenal (1933–35), Liverpool (1982–84) và Manchester United (1999–2001 và 2007–09) là những đội bóng lên ngôi vô địch trong ba mùa bóng liên tiếp.[11]

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • In đậm chỉ Cú đúp danh hiệu – Ví dụ như “Vô địch quốc gia và cúp nội địa (Cúp FA hoặc Liên đoàn)”, hoặc “Vô địch quốc gia và một cúp châu Âu (UEFA Champions League hoặc UEFA Europa League)”.
  • In đậm nghiêng chỉ Cú ăn ba danh hiệu – Ví dụ như “Vô địch quốc gia, một cúp nội địa (Cúp liên đoàn hoặc Cúp FA) và một cúp châu Âu (UEFA Champions League hoặc UEFA Europa League).
  • In nghiêng chỉ cú ăn ba vô địch nội địa – Vô địch quốc gia, Cúp FA và Cúp Liên đoàn.

[sửa | sửa mã nguồn]

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại hạng Anh (1992–nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng số danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Có tổng cộng 24 câu lạc bộ từng đăng quang ngôi vương bóng đá Anh. Các đội in đậm đang thi đấu tại Ngoại hạng Anh mùa giải 2019–20.

VFF phủ nhận việc huấn luyện viên Park Hang-seo chuyển đến Thái Lan

Xếp hạng Câu lạc bộ Vô địch Á quân Mùa đăng quang
1 Manchester United 20 16 1907–08, 1910–11, 1951–52, 1955–56, 1956–57, 1964–65, 1966–67, 1992–93, 1993–94, 1995–96, 1996–97, 1998–99, 1999–2000, 2000–01, 2002–03, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2010–11, 2012–13
2 Liverpool 19 14 1900–01, 1905–06, 1921–22, 1922–23, 1946–47, 1963–64, 1965–66, 1972–73, 1975–76, 1976–77, 1978–79, 1979–80, 1981–82, 1982–83, 1983–84, 1985–86, 1987–88, 1989–90, 2019-20
3 Arsenal 13 9 1930–31, 1932–33, 1933–34, 1934–35, 1937–38, 1947–48, 1952–53, 1970–71, 1988–89, 1990–91, 1997–98, 2001–02, 2003–04
4 Everton 9 7 1890–91, 1914–15, 1927–28, 1931–32, 1938–39, 1962–63, 1969–70, 1984–85, 1986–87
5 Aston Villa 7 10 1893–94, 1895–96, 1896–97, 1898–99, 1899–1900, 1909–10, 1980–81
Manchester City 7 5 1936–37, 1967–68, 2011–12, 2013–14, 2017-18, 2018-19, 2020–21
6 Sunderland 6 5 1891–92, 1892–93, 1894–95, 1901–02, 1912–13, 1935–36
Chelsea 6 4 1954–55, 2004–05, 2005–06, 2009–10, 2014–15, 2016–17
9 Newcastle United 4 2 1904–05, 1906–07, 1908–09, 1926–27
Sheffield Wednesday 4 1 1902–03, 1903–04, 1928–29, 1929–30
11 Wolverhampton Wanderers 3 5 1953–54, 1957–58, 1958–59
Leeds United 3 5 1968–69, 1973–74, 1991–92
Huddersfield Town 3 3 1923–24, 1924–25, 1925–26
Blackburn Rovers 3 1 1911–12, 1913–14, 1994–95
15 Preston North End 2 6 1888–89, 1889–90
Tottenham Hotspur 2 5 1950–51, 1960–61
Derby County 2 3 1971–72, 1974–75
Burnley 2 2 1920–21, 1959–60
Portsmouth 2 0 1948–49, 1949–50
20 Ipswich Town 1 2 1961–62
Nottingham Forest 1 2 1977–78
Sheffield United 1 2 1897–98
West Bromwich Albion 1 2 1919–20
Leicester City 1 1 2015–16
Bristol City
0
1
Oldham Athletic
0
1
Cardiff City
0
1
Charlton Athletic
0
1
Blackpool
0
1
Queen’s Park Rangers
0
1
Watford
0
1
Southampton
0
1

Số danh hiệu theo câu lạc bộ (%)

Manchester United – 20 (17%)

Liverpool – 19 (16%)

Arsenal – 13 (11%)

Everton – 9 (8%)

Tiền Đạo Số 1 Chap 137 Next Chap 138 – DocTruyen3Q

Aston Villa – 7 (6%)

Sunderland – 6 (5%)

Manchester City – 7 (5%)

Chelsea – 6 (5%)

Các đội khác – 35 (29%)

Theo khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Số danh hiệu Câu lạc bộ
Tây Bắc
62
Manchester United (20), Liverpool (19), Everton (9), Manchester City (7) Blackburn Rovers (3), Burnley (2), Preston North End (2)
Luân Đôn
21
Arsenal (13), Chelsea (6), Tottenham Hotspur (2)
Yorkshire và the Humber
11
Sheffield Wednesday (4), Huddersfield Town (3), Leeds United (3), Sheffield United (1)
West Midlands
11
Aston Villa (7), Wolverhampton Wanderers (3), West Bromwich Albion (1)
Đông Bắc
10
Sunderland (6), Newcastle United (4)
East Midlands
4
Derby County (2), Leicester City (1), Nottingham Forest (1)
Đông Nam
2
Portsmouth (2)
Đông nước Anh
1
Ipswich Town (1)
Tây Nam
Wales

Theo thành phố / thị trấn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Danh sách các trận chung kết Cúp FA
  • Danh sách các trận chung kết cúp Liên đoàn Anh

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Cúp bóng đá châu Phi 2017 – Wikipedia tiếng Việt

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chung
  • “Past winners–The Football League”. Football League website. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2019.
  • “England – List of Champions”. RSSSF. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2019.
  • “English League Leading Goalscorers”. RSSSF. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2019.
Riêng
  1. ^ “The History of the Football League”. Football League website. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2006.
  2. ^ Inglis, Simon (1988). League Football and the Men Who Made It. Willow Books. tr. 6–8. ISBN 0969756783.
  3. ^ Titford, Roger (tháng 11 năm 2005). “Football League, 1888–89”. When Saturday Comes. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019.
  4. ^ Goldblatt, David (2007). The Ball is Round: A Global History of Football. London: Penguin. tr. 58. ISBN 0969756783.
  5. ^ Inglis, League Football and the Men Who Made It, tr.25
  6. ^ “Free-scoring Gunners clinch first title”. Arsenal.com. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
  7. ^ Dart, Tom (ngày 25 tháng 5 năm 2009). “Burnley: little town, big traditions”. The Times. London. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  8. ^ “A History of The Premier League”. Premier League. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2009.
  9. ^ Harris, Nick (ngày 7 tháng 2 năm 2009). “£1.78bn: Record Premier League TV deal defies economic slump”. Independent. London. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
  10. ^ Nurse, Howard (ngày 14 tháng 5 năm 2011). “Blackburn 1 – 1 Man Utd”. BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2011.
  11. ^ “Sideline”. London: The Times. ngày 16 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2019.

[external_footer]