(CÓ LỜI GIẢI) 35 CÂU TỰ LUẬN KINH Doanh QUỐC TẾ – CÂU 1: KDQT LÀ GÌ? PHÂN BIỆT KDQT VÀ KDNĐ? LẤY 3 – StuDocu

CÂU 1 : KDQT LÀ GÌ ? PHÂN BIỆT KDQT VÀ KDNĐ ? LẤY 3 VÍ DỤ CÂU 2 : TRÌNH BÀY VÀ GIẢI THÍCH 1 SỐ LÝ DO CÁC CÔNG TY THAM GIA VÀO hợp đồng KINH DOANH QUỐC TẾ ? VÍ DỤ. CÂU 3 : CÁC HÌNH THỨC KINH DOANH QUỐC TẾ CHỦ YẾU. CÂU 4 : KHI PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CẦN LƯU Ý NHỮNG YẾU TỐ NÀO ? GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ .

CÂU 5: NHỮNG THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA? LẤY VÍ DỤ CHỨNG MINH CHO NHỮNG ẢNH HƯỞNG
CỦA CHÚNG ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG KDQT?
CÂU 6: TB CÁC LOẠI RỦI RO CHÍNH TRỊ VÀ GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN HĐ KDQT?
CÂU 7: CÁC BIỆN PHÁP MÀ NHÀ QUẢN TRỊ CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ HẠN CHẾ RỦI RO CHÍNH TRỊ LÀ
GÌ?
CÂU 8: NHỮNG TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐẾN KDQT? VD
CÂU 9: KHI PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH TẾ CẦN LƯU Ý NHỮNG YẾU TỐ NÀO? SỰ TÁC ĐỘNG
CỦA CHÚNG ĐẾN HĐ KDQT NHƯ THẾ NÀO?
CÂU 10: PHÂN TÍCH CÁC ÁP LỰC CẠNH TRANH TRONG MỌI NGÀNH SX – KD?
CÂU 11: TB MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA TRONG KDQT?
CÂU 12: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ?
CÂU 13: TB LÝ THUYẾT VỀ THUYẾT TUYỆT ĐỐI, THUYẾT TƯƠNG ĐỐI VÀ THUYẾT CẠNH TRANH
QUỐC GIA?
CÂU 14: PHÂN TÍCH LÝ DO CAN THIỆP VÀO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA CÁC CHÍNH PHỦ?
CÂU 15: TB CÁC BIỆN PHÁP (CÔNG CỤ) PHỔ BIẾN CAN THIỆP VÀO THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
CÂU 16: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA FDI?
CÂU 17: TB MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
CÂU 18: GIẢI THÍCH SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI FDI? CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU ĐƯỢC
SỬ DỤNG ĐỂ CAN THIỆP VÀO FDI?
CÂU 19: KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH?
CÂU 20: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ?
CÂU 21: CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH NÊN THỊ TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ? KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG
THAM GIA THỊ TRƯỜNG VỐN QUỐC TẾ CỦA VN NÓI CHUNG VÀ CỦA DOANH NGHIỆP VN NÓI
RIÊNG?
CÂU 22: KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI?
CÂU 23: LÝ DO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
CÂU 25: PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC KDQT?
CÂU 26: TB NỘI DUNG, NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA CÁC LOẠI CHIẾN LƯỢC KDQT?
CÂU 27: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC KDQT?
CÂU 28: TB CÁC CHIẾN LƯỢC CHỦ YẾU CẤP CÔNG TY (DN) VÀ CẤP CƠ SỞ?
CÂU 29: THẾ NÀO LÀ QUẢN LÝ TẬP TRUNG VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ? CÁC QUAN ĐIỂM CHÍNH ỦNG
HỘ CHO 2 CƠ CHẾ QUẢN LÝ NÀY LÀ GÌ?
CÂU 30: TB CÁC LOẠI HÌNH CƠ CẤU TỔ CHỨC QUỐC TẾ?
CÂU 31: PHÂN TÍCH ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI BẰNG
XK TRỰC TIẾP VÀ XK GIÁN TIẾP? CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU CỦA CHÚNG
CÂU 32: VÌ SAO CÁC CÔNG TY THỰC HIỆN MUA BÁN ĐỐI LƯU? HÃY LIỆT KÊ CÁC HÌNH THỨC MUA
BÁN ĐỐI LƯU CHỦ YẾU?
CÂU 33: THẾ NÀO LÀ HỢP ĐỒNG SỬ DỤNG GIẤY PHÉP VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN. PHÂN TÍCH
ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÚNG.
CÂU 34: CHI NHÁNH SỞ HỮU ĐẦU TƯ TOÀN BỘ LÀ GÌ? PHÂN TÍCH CÁC ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA
CHÚNG.
CÂU 35: THẾ NÀO LÀ LIÊN DOANH, LIÊN MINH CHIẾN LƯỢC? TRÌNH BÀY CÁC ƯU, NHƯỢC ĐIỂM
CỦA CHÚNG.
CÂU 1: KDQT LÀ GÌ? PHÂN BIỆT KDQT VÀ KDNĐ? LẤY 3 VÍ DỤ
KN:
Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các
quốc gia, nhằm thỏa mãn các mục tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế xã
hội. Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia, và trong môi trường kinh
doanh mới và xa lạ.

Ví dụ về một số giao dịch kinh doanh quốc tế:

  • Tập đoàn Cocacola quyết định đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tại Việt Nam
  • Công ty sữa Vinamilk tìm thị trường tiêu thụ tại Nhật Bản
  • Công ty Cổ phần May 10 ký hợp đồng gia công quần áo cho hãng Nike
    Phân biệt kinh doanh quốc tế và kinh doanh nội địa?
    Giống: đều là các hđ giao dịch kinh daonh nhằm đạt được các mục tiêu của DN, tổ chức, cá
    nhân.
     KDQT: – Vượt qua biên giới của một quốc gia
    o Gặp nhiều rủi ro hơn
    o HĐ kinh doanh trong môi trường mới và xa lạ nên phải thích ứng nhiều hơn.
    o Mở rộng phạm vi thị trường nên có cơ hội tăng lợi nhuận hơn so với các DN
    KDNĐ
    o Các hđ kinh doanh diễn ra giữa các nước và toàn cầu
    o Dễ dàng tạo được uy tín trên thị trường quốc tế và đa dạng hóa hđ kd.
     KDNĐ: – Các hđ diễn ra trong biên giới của một quốc gia
     Gặp ít rủi ro hơn, lợi nhuận khó có thể tăng cao nếu chỉ kd trong nước.
     Các hđ kd diễn ra giữa các tổ chức trong nước.
     Chủ yếu tận dụng nguồn lực trong nước để tiến hành kd nhằm thu lợi
    nhuận.

CÂU 2: TRÌNH BÀY VÀ GIẢI THÍCH 1 SỐ LÝ DO CÁC CÔNG TY THAM GIA VÀO
HĐ KINH DOANH QUỐC TẾ? VÍ DỤ.
Các công ty tham gia kinh doanh quốc tế xuất phát từ lý do tăng doanh số bán hàng và tiếp cận
các nguồn lực dồi dào, giá rẻ hoặc có chất lượng cao là chủ yếu.
*** Tăng doanh số bán hàng.**
– Cơ hội tăng doanh số bán quốc tế
 Các công ty thường tham gia kinh doanh quốc tế nhằm khai thác các cơ hội bán hàng
quốc tế bằng cách tăng doanh số bán hàng do các yếu tố như thị trường trong nước bão hòa
hoặc nền kinh tế đang suy thoái.
 Mức thu nhập bấp bênh gây nên những xáo động thất thường của quá trình sản xuất, các
quá trình này có thể là sản xuất quá tải hoặc không hết công xuất. Buộc các công ty ổn định
nguồn thu nhập của mình bằng cách bổ sung doanh số bán hàng quốc tế và doanh số bán
hàng trong nước.
 Thái độ tiếp nhận sản phẩm của kh ở các nền VH khác nhau: Các công ty sẽ nhảy vào thị
trường quốc tế khi họ tin rằng khách hàng ở các nền văn hóa khác có thái độ tiếp nhận sản
phẩm của mình tốt hơn và có thể mua chúng.
Chúng ta hãy xem chiến lược của Mc. Donald, mặc dù trung bình cứ 29 người Mỹ thì có
một cửa hàng Mc Donald, nhưng ở Trung Quốc thì con số này là 40 triệu người/một cửa hàng.
Do vậy chúng ta không có gì ngạc nhiên khi hãng Mc. Donald đang đầu tư mở rộng hoạt động ở
thị trường Trung quốc cũng như ở một số nước Châu Á khác vì họ vẫn tin tưởng rằng lượng
khách hàng có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm của họ vẫn còn rất lớn và nhu cầu này sẽ ngày
càng tăng lên.
– Tận dụng các nguồn lực sản xuất dư thừa
 Khi công ty sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn mức thị trường có thể tiêu thụ. Điều
đó xảy ra khi các nguồn lực bị dư thừa. Thúc đẩy DN tìm các nhu cầu tiêu thụ khác trên thế

hoặc bán lại thành phẩm cho bên đặt gia công và bên đặt gia công phải trả cho bên nhận gia công một khoản tiền gọi là phí gia công. ( Gia công thuê cho quốc tế / thuê quốc tế gia công ) .

  • Tái xuất khẩu là xuất khẩu trở lại ra nước ngoài nhưng hàng hóa trước đây đã nhập khẩu nhưng
    chưa qua chế biến. Tuy nhiên, trong thực tế có một số cách thức tái xuất khẩu khác nhau mà các
    công ty có thể lựa chọn thùy theo các điều kiện cụ thể của mình.
  • Chuyển khẩu là hàng hóa được chuyển từ một nước sang một nước thứ ba thông qua một nước
    khác. Trong hđ này không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụ như vận tải, quá
    cảnh, lưu kho, bảo quản…
  • Xuất khẩu tại chỗ là hành vi bán hàng hóa cho người nước ngoài trên lãnh địa của nước 0mình.
    b. Nhóm hình thức kinh doanh thông qua các hợp đồng
  • Hợp đồng cấp giấy phép là hợp đồng thông qua đó một công ty trao quyền sử dụng tài sản vô
    hình của mình cho một doanh nghiệp khác trong một thời gian nhất định và người được cấp giấy
    phép phải trả cho người cấp giấy phép một số tiền nhất định theo thoả thuận.
  • Hợp đồng đại lý đặc quyền là một hợp đồng hợp tác kinh doanh thông qua đó người ta đưa ra
    đặc quyền trao và cho phép người nhận đặc quyền sử dụng tên công ty rồi trao cho họ nhãn hiệu,
    mẫu mã và tiếp tục thực hiện sự giúp đỡ hoạt động kinh doanh của đối tác đó, ngược lại công ty
    nhận được một khoản tiền mà đối tác trả cho công ty.
  • Hợp đồng quản lý là hợp đồng qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp đỡ của mình đối với
    một doanh nghiệp khác quốc tịch bằng việc cử những nhân viên quản lý của mình hỗ trợ cho
    doanh nghiệp kia thực hiện các chức năng quản lý.
  • Hợp đồng theo đơn đặt hàng là loại hợp đồng thường diễn ra với các dự án vô cùng lớn, đa
    dạng, chi tiết với những bộ phận rất phức tạp, cho nên các vấn đề về vốn, công nghệ và quản lý,
    họ không tự đảm nhận được mà phải ký hợp đồng theo đơn đặt hàng từng khâu, từng giai đoạn
    của dự án đó.
  • Hợp đồng xây dựng và chuyển giao là những hợp đồng được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực
    xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra xây dựng công trình, kinh
    doanh trong một khoảng thời gian nhất định sau đó chuyển giao lại cho nước sở tại trong tình
    trạng công trình còn đang hoạt động tốt mà nước sở tại không phải bồi hoàn tài sản cho bên nước
    ngoài. Ví dụ như các dự án làm đường, thu phí, chuyển giao
  • Hợp đồng phân chia sản phẩm là loại hợp đồng mà hai bên hoặc nhiều bên ký kết với nhau
    cùng nhau góp vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh và sản phẩm thu được sẽ được chia
    cho các bên theo tỷ lệ góp vốn hoặc thoả thuận.
    c. Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài
  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản sang nước khác để
    đầu tư kinh doanh và trực tiếp quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn, đồng thời chịu
    trách nhiệm về kết quả kinh doanh của dự án.
  • Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư mang vốn sang nước khác để đầu tư nhưng
    không trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đối tượng bỏ vốn đầu tư, thông qua việc mua cổ
    phiếu ở nước ngoài hoặc cho vay.
    Trên thực tế kinh doanh quốc tế còn xuất hiện nhiều hình thức mới để các công ty lựa chọn như
    kinh doanh tổng hợp các dịch vụ quốc tế. Trên đây là các hình thức phổ biến nhất và cơ bản nhất
    mà các chủ thể kinh doanh quốc tế có thể lựa chọn cho phù hợp với điều kiện của mình.

CÂU 4: KHI PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CẦN LƯU Ý NHỮNG YẾU TỐ

NÀO? GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

QUỐC TẾ

. Một số các yếu tố cần chú ý khi phân tích môi trường tự nhiên là:
 Vị trí địa lý
 Địa hình
 Khí hậu
 Tài nguyên thiên nhiên
o Vị trí địa lý: Các quốc gia có vị trí địa lý thuận tiện cho hoạt động KDQT như
giáp với các nước có nền kinh tế phát triển hoặc có vị trí giáp biển dễ dàng phát triển cảng
nước sâu thuận tiện cho giao thong, trao đổi thương mại dịch vụ với các quốc gia khác hơn là
các quốc gia kém phát triển hoặc nằm sâu trong lục địa. VD: Việt Nam và Lào…
Vị trí địa lý càng thuận tiện càng dễ tham gia vào hoạt động KDQT.
 Địa hình: Tất cả các đặc điểm tự nhiên tạo nên đặc trưng bề mặt của khu vực địa lý cấu
thành địa hình.
o Một số đặc điểm bề mặt như các con sông có thể có tàu bè qua lại và đồng bằng
có điều kiện dễ dàng cho đi lại và liên hệ với các nơi khác. Ngược lại vùng núi trải dài và
sông hồ lớn có thể giảm sự liên lạc và thay đổi văn hóa. Các nền văn hóa tập trung ở vùng
núi khó vượt qua hoặc biển hồ lớn (Everest, Biển Đen…) sẽ có ít khả năng tiếp nhận những
nét đặc sắc văn hóa của các nền văn hóa khác.
o Địa hình có thể ảnh hưởng đến nhu cầu sản phẩm của khách hàng. Ví dụ, có ít
nhu cầu về xe gas của hãng Honda ở các vùng đồi núi vì động cơ của nó quá yếu. Nhưng ở
đó lại là tốt hơn đối với việc bán xe môtô có động cơ lớn hơn để chạy ở địa hình xấu, cơ
động và tiết kiệm nhiên liệu. Không khí loãng hơn ở những vùng cao hơn có thể cũng yêu
cầu cần cải tiến thiết kế bộ chế hòa khí cho các xe tải dùng xăng có công suất khỏe hơn.
o Địa hình có thể ảnh hưởng lớn đến giao tiếp cá nhân trong một nền văn hóa. Ví
dụ, 2/3 lãnh thổ Trung Quốc nằm trong địa hình đồi núi (gồm cả dãy núi Himalaya ở nam
Tây Tạng) và các sa mạc Gobi rộng lớn. Các nhóm dân tộc sống ở thung lũng núi trên thực tế
vẫn giữ lối sống và sử dụng ngôn ngữ riêng của họ. Mặc dù tiếng thổ ngữ Quan Thoại đã
được phê chuẩn là ngôn ngữ quốc gia nhiều năm trước đây nhưng các vùng núi, sa mạc và
đồng bằng rộng lớn của Trung Quốc vẫn hạn chế sử dụng và phát triển loại ngôn ngữ này
trong giao tiếp cá nhân.
 Khí hậu : Điều kiện thời tiết ở một khu vực địa lý được gọi là khí hậu. Khí
hậu ảnh hưởng đến địa điểm con người cư trú và hệ thống phân phối.
VD: Ở Australia, điều kiện khí hậu khô và nóng được buộc người dân phải
cư trú ở những khu vực gần bờ biển. Kết quả là nước ở bờ biển vẫn có thể sử dụng để phân phối
đến các thành phố xa vì vận chuyển nước ít tốn kém hơn vận chuyển đất.
 Khí hậu ảnh hưởng đến lối sống và công việc: Khí hậu đóng vai trò quan trọng đối với
thói quen trong cuộc sống và công việc.
VD: Ở nhiều quốc gia Nam Âu, Bắc Phi và Trung Đông trong mùa hè
(tháng 7 và tháng 8) sức nóng của mặt trời tăng mạnh vào đầu giờ chiều, do đó người dân thường
nghỉ làm việc sau trưa 1 hoặc 2 tiếng. Trong thời gian này mọi người có thể nghỉ ngơi hoặc làm
những việc lặt vặt như đi mua sắm, sau đó trở lại làm việc đến 7 hoặc 8 giờ tối.→ Các công ty
kinh doanh trong những vùng này phải thích nghi. Chẳng hạn như phải điều chỉnh kế hoạch sản
xuất trong những giai đoạn máy móc nhàn rỗi. Kế hoạch giao hàng và nhận hàng phải lùi lại vào
buổi chiều tối tạo điều kiện cho giao hàng thuận tiện trong những giờ làm việc muộn.
 Khí hậu ảnh hưởng đến tập quán: Khí hậu cũng ảnh hưởng đến các tập quán như mặc
quần áo và dùng thức ăn.

nhảy, quán bar thì chọn nhạc mạnh, gây hưng phấn, kích thích là phù hợp. Kinh doanh du lịch,
văn hóa festival truyền thống nên sử dụng nhạc cụ dân tộc: nhã nhạc cung đình, chèo..ù hợp
với văn hóa và sở thích của khách du lịch.
Tương tự vậy, kiến trúc của các tòa nhà và các công trình kiến trúc khác nhau cũng cần
được nghiên cứu để tránh những sai lầm ngớ ngẩn về sự tượng trưng của những hình dáng và
hình thức cụ thể.
b. Giá trị và thái độ
*** Giá trị**
Là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của con
người. Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách nhiệm.
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vật
chất và đạo đức nghề nghiệp của con người
Chẳng hạn như ở Singapore giá trị là làm việc tích cực và thành đạt về vật chất, ở
Hy Lạp giá trị là nghỉ ngơi và lối sống văn minh. Ở Mỹ giá trị là tự do cá nhân, người Mỹ có thể
làm theo sở thích hoặc thay đổi lối sống của mình cho dù có phải từ bỏ mọi cam kết với gia đình,
với cộng đồng. Ở Nhật Bản, giá trị là sự đồng lòng trong nhóm, mọi người đều tin cậy lẫn nhau.
Ở nhiều nền văn hóa trên thế giới hầu như các giao dịch kinh doanh giữa các cá nhân đều
phải được thanh toán bằng tiền mặt, họ không nhận séc hoặc giấy bảo đảm vì những thứ đó họ
không tin tưởng rằng có thể kiểm soát được.
*** Thái độ**
Là những đánh giá, tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của con
người đối với một khái niệm hay một đối tượng nào đó.
Ví dụ, một người Mỹ nói:“ Tôi không thích làm việc cho công ty Nhật vì tại đó
tôi không được ra quyết định một cách độc lập”. Thái độ phản ánh các giá trị tiềm ẩn. Trong
trường hợp này, thái độ của người Mỹ xuất phát từ sự coi trọng tự do cá nhân.
Trong các khía cạnh quan trọng của cuộc sống có ảnh hưởng trực tiếp đến các
hoạt động kinh doanh, con người thường có những thái độ khác nhau đối với các vấn đề như thời
gian, công việc, sự thành công và sự thay đổi văn hóa.
– Thái độ đối với thời gian
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thường không coi
trọng vấn đề thời gian. Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họ thích hưởng thụ thời gian hơn
là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc.
Ngược lại, đối với người Mỹ, thời gian chính là nguồn của cải quý giá “Thời gian
là tiền bạc”, Chính vì thế người Mỹ luôn luôn coi trọng sự đúng giờ và biết quý trọng thời gian
của người khác. Tương tự như vậy, người Nhật Bản cũng rất quý trọng thời gian, họ luôn theo sát
các kế hoạch đã đề ra và làm việc liên tục trong một khoảng thời gian dài.
Tuy nhiên, người Nhật và người Mỹ cũng có sự khác nhau trong cách sử dụng
thời gian cho công việc. Ví dụ, người Mỹ gắng sức làm việc theo hướng lấy hiệu quả công việc
là tiêu chí hàng đầu, thỉnh thoảng họ có thể ra về sớm nếu ngày hôm đó đã hoàn thành nhiệm vụ.
Thái độ này chịu ảnh hưởng bởi giá trị của người Mỹ, họ coi trọng năng suất và thành quả cá
nhân.
Ở Nhật, điều quan trọng là luôn bận rộn trong con mắt của người khác ngay cả
khi công việc đó chẳng có gì đáng phải bận rộn cả. Người Nhật có thái độ như vậy là do họ
muốn biểu lộ sự cống hiến của mình trước cấp trên và các đồng nghiệp. Trong trường hợp này,
thái độ truyền thụ những giá trị như sự nhất quán, lòng trung thực, sự hòa thuận trong nhóm.
– Thái độ đối với công việc và sự thành công

Người dân ở phía Nam nước Pháp hay nói: “chúng ta làm việc để sống”, trong khi
người Mỹ lại nói: “sống để làm việc”. Họ cho rằng công việc là phương tiện để đạt được mục
đích. Trong khi đó, người Mỹ lại nói rằng công việc, bản thân nó đã là mục đích rồi. Không gì
ngạc nhiên khi lối sống của dân miền Nam nước Pháp có nhịp độ chậm. Mục đích của họ là kiếm
tiền để hưởng thụ. Trong thực tế các doanh nghiệp ở đây đã phải đóng cửa trong suốt tháng 8 khi
công nhân của họ đi nghỉ dài ngày trong khoảng thời gian này (thường đi ra nước ngoài).
Một số người không mong ước tới sự thành công trong công việc mà chỉ mong
muốn có một công việc nào đó để làm để tránh nhàm chán. Ngược lại, có những người mong
muốn, hăm hở làm việc là để nhằm đạt được một sự thành công nào đó. Những người này
thường ít nổ lực nếu như họ biết rằng khả năng thất bại là chắc chắn.
Cuối cùng, thái độ đối với công việc cũng chịu sự tác động của quá trình chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường tự do. VD: Công nhân không còn thỏa mãn với cách sản xuất sản
phẩm theo cơ chế cũ và muốn hoàn thiện bằng công việc của chính họ. Họ muốn các nhà quản lý
phải có kỹ năng trong công việc của họ, có kinh nghiệm đáng tin cậy và có quyết định hợp lý.
c. Tập quán và phong tục
Khi tiến hành kinh doanh ở một nền văn hóa khác, điều quan trọng đối với mỗi
doanh nhân là phải hiểu phong tục, tập quán của người dân nơi đó. Hiểu phong tục tập quán sẽ
giúp nhà quản lý tránh được các sai lầm ngớ ngẩn hoặc tránh sự chống đối từ những người khác.
Nếu có kiến thức sâu hơn thì sẽ có cơ hội nâng cao khả năng giao tiếp trong các nền văn hóa
khác, bán sản phẩm hiệu quả hơn và quản lý được các hoạt động quốc tế.

_ Tập quán_*
Các cách cư xử, nói năng và ăn mặc thích hợp trong một nền văn hóa được gọi là
tập quán. Trong nền văn hóa Arập từ Trung Đông đến Tây Bắc Phi, bạn không được chìa tay ra
khi chào mời một người nhiều tuổi hơn ngoại trừ người này đưa tay ra trước. Nếu người trẻ hơn
đưa tay ra trước, đó là một cách cư xử không thích hợp. Thêm vào đó, vì văn hóa Arập xem tay
trái là “bàn tay không trong sạch” nên nếu dùng bàn tay này để rót trà và phục vụ cơm nước thì
bị coi là cách cư xử không lịch sự.
Kết hợp bàn bạc công việc kinh doanh trong bữa ăn là thông lệ bình thường ở Mỹ.
Tuy nhiên, ở Mexico thì đó lại là điều không tốt ngoại trừ người sở tại nêu vấn đề trước, và cuộc
thương thảo kinh doanh sẽ bắt đầu lại khi uống cà phê hoặc rượu.
_ Phong tục_*
Khi thói quen hoặc cách cư xử trong những trường hợp cụ thể được truyền bá qua
nhiều thế hệ, nó trở thành phong tục. Phong tục khác tập quán ở chỗ nó xác định những thói quen
và hành vi hợp lý trong những trường hợp cụ thể. Có hai loại phong tục khác nhau đó là phong
tục phổ thông và phong tục dân gian.
Phong tục dân gian thường là cách cư xử bắt đầu từ nhiều thế hệ trước, đã tạo
thành thông lệ trong một nhóm người đồng nhất. Việc đội khăn xếp ở người đạo Hồi ở Nam Á và
nghệ thuật múa bụng ở Thổ Nhĩ Kỳ là phong tục dân gian, lễ ăn hỏi cô dâu việt nam mặc áo dài
đỏ.
Phong tục phổ thông là cách cư xử chung của nhóm không đồng nhất hoặc nhiều
nhóm. Phong tục phổ thông có thể tồn tại trong một nền văn hóa hoặc hai hay nhiều nền văn hóa
cùng một lúc. Tặng hoa trong ngày sinh nhật, mặc quần Jean blue hay chơi Gôn là phong tục phổ
thông. Nhiều phong tục dân gian được mở rộng do sự truyền bá văn hóa từ vùng này đến các
vùng khác đã phát triển thành những phong tục phổ thong, VD: ngày valetine tặng hoa và quà.
d. Cấu trúc xã hội

VD : Ở Ấn Độ cưới xin không thuộc cùng quý phái là điều đại kị. Nhiều thời cơ về việc làm và thăng quan tiến chức bị khước từ trong mạng lưới hệ thống, những nghề nghiệp nhất định bị hạn chế so với thành viên trong mỗi quý phái. Trong quản trị, một thành viên ở quý phái thấp không hề giám sát một ai đó ở đẳng cấp và sang trọng cao hơn. Mặc dù thể chế xã hội Ấn Độ chính thức cấm sự phân biệt đẳng cấp và sang trọng, nhưng tác động ảnh hưởng của nó vẫn sống sót. Tuy nhiên, tiến trình toàn thế giới hóa đưa vào những giá trị mới và mạng lưới hệ thống xã hội này sẽ phải thích nghi .

  • Hệ thống giai cấp
    Một hệ thống phân tầng xã hội trong đó khả năng cá nhân và hành động cá nhân
    quyết định địa vị xã hội và tính linh hoạt của xã hội được gọi là hệ thống giai cấp. Đây là hình
    thức thông dụng trong phân tầng xã hội trên thế giới ngày nay.
    Ý thức về giai cấp của người dân trong một xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
    tính linh hoạt của xã hội đó. Các nền văn hóa có ý thức phân tầng cao thường ít linh hoạt hơn và
    nó phải trải qua mâu thuẫn giai cấp cao hơn.
    Ví dụ, ở các nước Tây Âu (Anh), các gia đình, tập đoàn giàu có duy trì quyền lực
    trong nhiều thế hệ. Kết quả là, họ phải đối mặt với mâu thuẫn giai cấp, điều thường xuyên thể
    hiện trong mâu thuẫn quản lý – lao động khi lãnh đạo không có đủ năng lực quản lý. bãi công và
    gây thiệt hại về tài sản là hiện tượng rất thông thường và thường dc người dân phương Tây sử
    dụng khi ban lãnh đạo ko đáp ứng đầy đủ các cam kết đặt ra.
    Ngược lại, ở mức ý thức giai cấp thấp hơn sẽ khuyến khích tính linh hoạt xã hội
    và ít có mâu thuẫn. Phần lớn các công dân Mỹ cùng chung niềm tin rằng làm việc tích cực có thể
    cải thiện các tiêu chuẩn sống và địa vị xã hội của họ. Họ cho rằng các địa vị xã hội cao hơn gắn
    với thu nhập cao hơn và sung túc hơn, ít xem xét đến nguồn gốc gia đình.
    e. Tôn giáo
    Tôn giáo là một hệ thống các tín ngưỡng và nghi thức liên quan tới yếu tố tinh
    thần của con người. Những giá trị nhân phẩm và những điều cấm kỵ thường xuất phát từ tín
    ngưỡng tôn giáo. Các tôn giáo khác nhau có quan điểm khác nhau về việc làm, tiết kiệm và hàng
    hóa. DN cần nghiên cứu kỹ vấn đề này để hiểu tôn giáo ảnh hưởng như thế nào đến tập quán
    kinh doanh là đặc biệt quan trọng ở các nước có chính phủ thuộc tôn giáo. VD: kinh doanh các
    tác phẩm nghệ thuật liên quan tới vấn đề tôn giáo như tranh, sách, tượng…
    Đạo Hồi cấm dung thịt lợn và rượu, nếu kinh doanh 2 sản phẩm này chắc chắn sẽ
    bị lỗ…
    Tôn giáo không giới hạn theo biên giới quốc gia và nó có thể tồn tại ở nhiều vùng
    khác nhau trên thế giới đồng thời cùng một lúc. Các tôn giáo khác nhau có thể thống trị trong
    nhiều vùng khác nhau ở các quốc gia đơn lẻ. Quan hệ giữa tôn giáo và xã hội là phức tạp, nhạy
    cảm và sâu sắc.
    Một số các tôn giáo chính như: Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Hinđu giáo, Phật giáo,
    Khổng giáo, Do Thái giáo, và Shinto giáo.
    g. Giao tiếp cá nhân
    Con người trong mỗi nền văn hóa có một hệ thống giao tiếp để truyền đạt ý nghĩ,
    tình cảm, kiến thức, thông tin qua lời nói, hành động và chữ viết. Hiểu ngôn ngữ thông thường
    của một nền văn hóa cho phép chúng ta biết được tại sao người dân nơi đó lại suy nghĩ và hành
    động như vậy. Hiểu các hình thức ngôn ngữ khác nhau (ngoài ngôn ngữ thông thường) của một
    nền văn hóa giúp chúng ta tránh đưa ra những thông tin gây ngượng ngùng hoặc ngớ ngẩn.
    _ Ngôn ngữ thông thường_*

Mỗi một dân tộc có một ngôn ngữ đặc trưng riêng của họ. Chỉ có thể hiểu thực sự
một nền văn hóa khi biết ngôn ngữ của nền văn hóa đó, do vậy ngôn ngữ là quan trọng đối với
tất cả các hoạt động kinh doanh quốc tế.
Ví dụ, dân số Malaysia gồm có người Mã Lai (60%), Trung Quốc (30%) và Ấn
Độ (10%). Tiếng Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia chính thức nhưng vẫn có sự dùng đan xen tiếng
anh, TQ, Ấn độ nên có thể xảy ra những xung đột giữa các nhóm sống trên đất nước này.

_ Ngôn ngữ chung (ngôn ngữ quốc tế)_*
Ngôn ngữ chung là ngôn ngữ thứ 3 hoặc là ngôn ngữ liên kết được hai bên cùng
nhau hiểu mà cả hai bên này đều nói những thứ ngôn ngữ bản địa khác nhau. Mặc dù chỉ 5% dân
số thế giới nói tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ nhất, nhưng đó là ngôn ngữ chung phổ biến nhất
trong kinh doanh quốc tế, theo sau là tiếng Pháp và Tây Ban Nha.
Vì hoạt động ở nhiều quốc gia, mỗi nước có ngôn ngữ riêng, nên các công ty đa
quốc gia phải chọn một ngôn ngữ chung thống nhất dùng cho giao tiếp trong nội bộ. Chẳng hạn
như công ty Sony và công ty Matshushita của Nhật cùng dùng tiếng Anh cho tất cả các thư từ và
giao dịch nội bộ. Việc dịch đúng tất cả thông tin là hết sức quan trọng trong kinh doanh quốc tế.
Thông thạo ngôn ngữ là vấn đề quan trọng đối với tất cả các nhà quản lý trong
kinh doanh quốc tế hiện nay.
_ Ngôn ngữ cử chỉ_*
Sự truyền tin qua ám hiệu không âm thanh, bao gồm điệu bộ tay chân, thể hiện
nét mặt, ánh mắt trong phạm vi cá nhân được coi là ngôn ngữ cử chỉ. Giống như ngôn ngữ thông
thường, truyền tin theo ngôn ngữ cử chỉ sẽ bao gồm cả thông tin lẫn tình cảm và nhiều điều khác
của một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác.
Phần lớn ngôn ngữ cử chỉ là rất tinh tế và thường phải mất thời gian để hiểu ý
nghĩa của nó. Những điệu bộ cơ thể thường truyền tải nhiều nghĩa khác nhau trong những nền
văn hóa khác nhau. Ví dụ, ám hiệu ngón cái là thô bỉ ở Italia và Hy Lạp nhưng có nghĩa “mọi thứ
được đấy” hoặc thậm chí là “tuyệt vời” ở Mỹ. Nắm bàn tay và chỉ giơ ngón giữa là hành động
xúc phạm ở Mỹ. Được coi là ngón tay thối.
 Một số lưu ý về ngôn ngữ khi tham gia KDQT:
 Thông thạo tiếng Anh, có thể Pháp, Tây ban nha.
 Sử dụng ngôn ngữ chung, thống nhất trong giao tiếp nội bộ
 Thận trọng khi sử dụng ngôn ngữ (nói và viết)
 Dịch cẩn thận, chính xác
 Xác nhận những gì đã thảo luận bằng văn bản
 Sử dụng các trợ giúp về hình ảnh nếu có thể
 Tránh dùng tiếng long hoặc các câu thành ngữ khó hiểu…
CÂU 6: TB CÁC LOẠI RỦI RO CHÍNH TRỊ VÀ GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA
CHÚNG ĐẾN HĐ KDQT?

Tất cả các công ty thực hiện kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia đều phải đối
mặt với rủi ro chính trị.
Rủi ro chính trị phát sinh là do những nguyên nhân sau:
 Sự lãnh đạo của chính trị yếu kém;
 Chính quyền bị thay đổi thường xuyên;
 Sự dính líu đến chính trị của các nhà lãnh đạo tôn giáo và quân đội;
 Hệ thống chính trị không ổn định;
 Những vụ xung đột về chủng tộc, tôn giáo và các dân tộc thiểu số;

  1. Chính phủ phải quốc hữu hóa những ngành mà họ cho rằng các công ty nước ngoài
    chuyển lợi nhuận tới đầu tư ở những nước khác có tỷ lệ thuế thấp.
  2. Chính phủ tiến hành quốc hữu hóa một ngành bởi vì tư tưởng lãnh đạo. Quốc hữu hóa đôi
    khi là công cụ chính trị. Nhà nước hứa là sẽ đảm bảo việc làm nếu được quốc hữu hóa.
  3. Quốc hữu hóa có lẽ là giải pháp trợ giúp những ngành mà các công ty tư nhân không
    muốn hoặc không có khả năng đầu tư, chẳng hạn như đầu tư vào những ngành công cộng.
    Chính phủ thường kiểm soát ngành công cộng và tài trợ hoạt động cho các ngành này từ thuế.
    Quốc hữu hóa cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia. Trong khi các chính phủ
    Cuba, Bắc Triều Tiên kiểm soát mọi ngành, thì Mỹ và Canada chỉ kiếm soát một số ngành. Các
    nước khác như Pháp, Braxin, Mexico, Ban Lan và Ấn Độ cố gắng làm cân bằng giữa sở hữu nhà
    nước và sở hữu tư nhân.

    • Sự thay đổi các chính sách
      Sự thay đổi chính sách của chính phủ cũng có thể là do nguyên nhân mất ổn định
      xã hội hoặc là do có sự tham gia của các chính đảng mới.
    • Những yêu cầu của địa phương
      Luật mà khuyến khích các nhà sản xuất trong nước cung cấp một số lượng hàng
      hóa và dịch vụ nào đó gọi là bảo hộ của địa phương. Chế độ bảo hộ yêu cầu các công ty sử dụng
      nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương, mua một phần từ nhà cung cấp địa phương hoặc thuê
      một số lượng nhân công nhất định nào đó ở địa phương.
      Các yêu cầu của địa phương có thể gây bất lợi sự tồn tại của các hãng trong dài hạn. Đặc
      biệt, họ có thể gây ra hai điểm bất lợi đối với các công ty
  4. Yêu cầu phải tuyển dụng những nhân công địa phương của họ có thể làm cho các công ty
    này thiếu những người làm việc có đủ trình độ.
  5. Yêu cầu các công ty sử dụng toàn bộ hoặc một phần nguyên, nhiên vật liệu của địa
    phương dẫn đến chi phí sản xuất cao, chất lượng giảm sút hoặc cả hai.

CÂU 7: CÁC BIỆN PHÁP MÀ NHÀ QUẢN TRỊ CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ HẠN CHẾ RỦI
RO CHÍNH TRỊ LÀ GÌ?
Bên cạnh kiểm soát và dự đoán những khả năng thay đổi chính trị, các công ty quốc tế
phải cố gắng quản lý được rủi ro chính trị mà những rủi ro này đe dọa đến hoạt động hiện tại
cũng như tương lai. Có năm phương pháp quản lý rủi ro chính trị đó là: né tránh, thích nghi, phụ
thuộc, thu nhập thông tin và những chính sách của địa phương.

  • Né tránh
    Né tránh đơn giản là hạn chế đầu tư vào những nước thiếu cơ hội đầu tư. Khi mà
    rủi ro có thể kiểm soát được và thị trường địa phương bị xáo trộn, các nhà quản lý tìm cách khác
    để giải quyết rủi ro chính trị.
  • Thích nghi
    Thích nghi có nghĩa là kết hợp chặt chẽ rủi ro với chiến lược kinh doanh, thường
    được giúp đỡ của các quan chức địa phương. Các công ty thu nhận rủi ro qua năm chiến lược:
    vốn tín dụng và vốn cổ phần của địa phương, định vị, trợ giúp phát triển, cộng tác và bảo hiểm.
    Vốn tín dụng và vốn cổ phần ở địa phương. Vốn tín dụng và vốn cổ phần trong đó
    phải kể đến tài trợ cho các hoạt động kinh doanh ở địa phương bằng sự trợ giúp của các hãng địa
    phương, công đoàn, các định chế tài chính và chính phủ. Sự trợ giúp của các tổ chức được thuận
    lợi với điều kiện phải đảm bảo là các thế lực chính trị không làm gián đoạn các hoạt động trên.
    Nếu là hoạt động góp vốn, các đối tác chấp nhận được lãi suất. Nếu là những khoản cho vay, họ
    nhận được lãi suất. Rủi ro được giảm xuống bởi vì các đối tác ở địa phương nhận được lợi ích.

Chiến lược xác định : Định vị yên cầu những hoạt động giải trí trợ giúp, đó là sự trộn lẫn loại sản phẩm hoặc 1 số ít yếu tố kinh doanh khác – thậm chí còn những công ty chỉ rõ ra – để tương thích với kiểu nghệ thuật và thẩm mỹ và văn hóa truyền thống. Trợ giúp tăng trưởng. Trợ giúp tăng trưởng được cho phép những công ty quốc tế trợ giúp những công ty trong nước hoặc khu vực trong tăng trưởng mạng lưới thông tin và giao thông vận tải, cải tổ chất lượng đời sống ở địa phương. Bởi vì lúc này những công ty và vương quốc đó trở thành đối tác chiến lược của nhau và cả hai bên cùng có lợi. Mức trợ giúp có sự biến hóa thâm thúy. Đối với những dự án Bất Động Sản nhỏ, những công ty kiến thiết xây dựng nhà cho người lao động. Đối với những dự án Bất Động Sản lớn, những hãng hoàn toàn có thể chi ra hàng triệu đô-la để kiến thiết xây dựng trường học, bệnh viện và tăng cấp hạ tầng. Sự cộng tác : Một phương pháp ngày càng phổ cập trong quản trị rủi ro đáng tiếc, sự hợp tác hoàn toàn có thể là phương pháp tối ưu trong kế hoạch tăng trưởng công ty, nó là phương pháp để san sẻ rủi ro đáng tiếc. Bảo hiểm : Các công ty mua bảo hiểm để chống lại rủi ro đáng tiếc chính trị tiềm ẩn. Có một số ít chủ trương bảo vệ những công ty khi mà chính quyền sở tại địa phương hạn chế việc chuyển tiền từ trong nước ra ngoài nước. Có những hình thức khác hạn chế mất mát do đấm đá bạo lực, cuộc chiến tranh, khủng bố .

  • Duy trì mức độ phụ thuộc
    Thông thường, một công ty duy trì sự phụ thuộc sở tại vào hoạt động của nó.
    Công ty phải tiếp cận theo ba hướng để giải quyết vấn đề này:
  1. Minh chứng được địa phương được lợi ích qua hoạt động của công ty nước ngoài.
  2. Các công ty nước ngoài cố gắng sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ và một phần nguồn
    lực sẵn có của địa phương. Họ cố gắng thuyết phục bất bỳ một sự chiếm đoạt tài sản nào
    cũng gây ra khó khăn trong kinh doanh.
  3. Nếu công ty đủ mạnh và đủ lớn, nó có thể nhận được toàn bộ quyền kiểm soát kênh phân
    phối ở địa phương. Nếu nó bị đe dọa, nó có thể từ chối cung cấp cho người tiêu dùng địa
    phương và người mua là các công ty địa phương.
    Duy trì sự phụ thuộc nhằm: Thứ nhất, công ty không phát triển nhân công địa phương.
    Những doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do sự hiện diện của các doanh nghiệp nước
    ngoài hùng mạnh. Thứ hai, các công ty quốc tế phá vỡ nhiều khu vực kinh tế bằng việc từ chối
    sử dụng các yếu tố sản xuất do khu vực này cung cấp. Thứ ba, các công ty này từ chối cung cấp
    sản phẩm cho địa phương. Thực tế này có ảnh hưởng xấu đến phúc lợi và an toàn của người dân
    địa phương, đặc biệt những sản phẩm này có tầm quan trọng đối với sức khỏe và an ninh.
  • Thu thập thông tin
    Các hãng kinh doanh quốc tế phải kiểm soát được thậm chí cố gắng dự đoán trước
    những sự kiện chính trị đe dọa hoạt động hiện tại và thu nhập trong tương lai. Có hai nguồn dữ
    liệu cần thiết cho việc dự báo rủi ro chính trị chính xác:
  1. Công ty yêu cầu người lao động đánh giá mức độ rủi ro chính trị. Những công nhân có
    thời gian làm việc ở một nước đủ lâu để hiểu được văn hóa và chính trị ở đây, cũng chính vì
    vậy, đây là nguồn thông tin đáng tin cậy.
  2. Một công ty cũng có thể thu thập thông tin từ những hãng chuyên cung cấp những dịch
    vụ về rủi ro chính trị. Đó là các ngân hàng, chuyên gia phân tích chính trị, các ấn phẩm mới
    xuất bản và các dịch vụ đánh giá rủi ro. Nhiều hãng đưa ra các báo cáo rủi ro chính trị chi tiết
    kể cả mức độ và nguồn gốc rủi ro cho mỗi quốc gia. Bởi vì dịch vụ này khá đắt đỏ, cho nên
    các doanh nghiệp và công ty nhỏ thường quan tâm những nguồn thông tin miễn phí sẵn có,
    đáng chú ý là nguồn từ chính phủ.

trường thành công ở hầu hết các nước công nghiệp, đặc biệt là Mỹ. Tuy nhiên không thể có một
nền kinh tế thị trường thuần túy.
Trong nền kinh tế chỉ huy (mệnh lệnh) tập trung, chính phủ là người trực tiếp điều phối các hoạt
động của các khu vực kinh tế khác nhau. Chính phủ xác định các mục tiêu sản xuất kinh doanh,
khối lượng sản phẩm, dịch vụ, giá cả, … Vì vậy, sự phản ứng và thích nghi của các doanh nghiệp
kinh doanh quốc tế ở môi trường này thường khó khăn, đòi hỏi phải tính toán và cân nhắc để đưa
ra những quyết định lựa chọn một cách thận trọng nhằm đề phòng và tránh những rủi ro không
đáng có.
Trong nền kinh tế hỗn hợp, tức là nền kinh tế vận hành theo nền kinh tế thị trường có sự can
thiệp của chính phủ với mức độ khác nhau. Xu hướng chung là chính phủ nên can thiệp có mức
độ giới hạn vào kinh tế thị trường. Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế theo hai cách: (1) sở hữu
trực tiếp, (2) tác động vào việc hình thành và đưa ra các quyết định quản lý. Sự can thiệp của
chính phủ nhiều hay ít vào nền kinh tế đã tạo ra những thuận lợi, khó khăn, và cơ hội kinh doanh
khác nhau cho các doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sớm phát hiện ra những cơ
hội hoặc thách thức mới trong kinh doanh để từ đó có sự điều chỉnh các hoạt động cho thích ứng,
tránh những đảo lộn lớn trong quán trình vận hành, duy trì và đạt những mục đích đã định trong
kinh doanh.
2. Sự phát triển của các quốc gia
a. Các chỉ tiêu đo lường trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia

  • GNP (tổng sản phẩm quốc dân) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ do một quốc tạo ra trong
    thời kỳ 1 năm.
  • GDP (tổng sản phẩm quốc nội): Là giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong phạm vi
    lãnh thổ của 1 quốc gia trong thời kỳ 1 năm.
  • Thu nhập bình quân trên đầu người: GDP/người, GNP/người
  • Ngang giá sức mua (PPP): Sức mua là giá trị hàng hóa và dịch vụ có thể mua được bằng một
    đơn vị đồng nội tệ. phản ánh khả năng tương quan giữa các đồng tiền của hai quốc gia trong việc
    mua cùng một hàng hóa tại chính hai nước này.
  • Chỉ số phát triển con người (HDI): Chủ yếu dựa trên 3 tiêu chí là tuổi thọ, giáo dục và thu nhập.
    Chỉ tiêu này nhấn mạnh vào khía cạnh con người của phát triển kinh tế.
    b. Phân loại các quốc gia theo cấp độ phát triển
    Thông thường các quốc gia được phân thành ba loại: Các quốc gia phát triển, các quốc gia đang
    phát triển và những nước công nghiệp mới. Sự phân loại này dựa trên một số chỉ tiêu như
    GNP/người, tỷ lệ dân cư làm nông nghiệp, tỷ trọng sản phẩm công nghiệp xuất khẩu trong tổng
    sản phẩm xuất khẩu, cơ cấu kinh tế, v. Tuy nhiên, không có một ranh giới rõ ràng trong việc
    phân loại các quốc gia.

CÂU 10: PHÂN TÍCH CÁC ÁP LỰC CẠNH TRANH TRONG MỌI NGÀNH SX – KD?
Theo Michael Porter, trong kinh doanh doanh nghiệp cần quan tâm tới 5 sức mạnh bên ngoài
tương ứng với 5 áp lực cạnh tranh.
1. Nguy cơ thay thế (Threat of Substitutes)
Trong mô hình của Porter, thuật ngữ “sản phẩm thay thế” là đề cập đến sản phẩm thuộc các
ngành sản xuất khác. Theo các nhà kinh tế, nguy cơ thay thế xuất hiện khi nhu cầu về một sản
phẩm bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi giá cả của một hàng hóa thay thế. Độ co giãn của cầu theo giá
của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi giá ở hàng hóa thay thế. Càng có nhiều hàng hóa
thay thế thì cầu sản phẩm càng có độ co giãn cao (có nghĩa là chỉ một sự thay đổi nhỏ trong giá
sản phẩm cũng dẫn đến sự thay đổi lớn trong lượng cầu sản phẩm) vì lúc này người mua có

nhiều sự lựa chọn hơn. Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả năng tăng
giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định.
Sự cạnh tranh gây ra bởi nguy cơ thay thế này thường đến từ các sản phẩm bên ngoài ngành. Giá
của các lon đựng nước bằng nhôm bị cạnh tranh bởi giá của các loại bao bì khác như chai thủy
tinh, hộp thép và hộp nhựa. Ngày nay, giá của các lốp xe mới không đắt đến mức người ta phải
vá lại lốp xe cũ để dùng. Nhưng trong ngành vận tải, lốp mới rất đắt trong khi lốp bị hỏng rất
nhanh, vì vậy ngành vá lốp xe tải vẫn còn phát triển được. Còn trong ngành sản xuất tã sơ sinh,
tã vải là một mặt hàng thay thế và vì vậy, giá của tã vải đặt giới hạn cho giá của tã giấy.
Mặc dù nguy cơ về hàng thay thế thường ảnh hưởng đến ngành, thông qua sự cạnh tranh giá cả,
nhưng người ta còn quan tâm đến các khía cạnh khác khi đánh giá về mối nguy cơ này. Hãy xem
xét khả năng thay thế của các loại truyền hình: trạm truyền hình địa phương truyền đến ti vi từng
nhà nhờ tín hiệu vô tuyến, nhưng dịch vụ này có thể bị thay thế bởi dịch vụ truyền hình cáp, vệ
tinh hay truyền hình bằng đường điện thoại. Các công nghệ mới và cơ cấu thay đổi của các
phương tiện giải trí cũng góp phần tạo nên sự cạnh tranh giữa các phương tiện giải trí có khả
năng thay thế lẫn nhau này, trừ những vùng xa xôi, nơi truyền hình cáp khó có thể cạnh tranh
chống lại truyền hình miễn phí qua ăng-ten với rất ít chương trình giải trí để phục vụ khách hàng.
2.4. Sức mạnh của khách hàng (Buyer Power)
Sức mạnh khách hàng là ảnh hưởng của khách hàng đối với một ngành sản xuất nào đó. Nhìn
chung, khi sức mạnh khách hàng lớn, thì mối quan hệ giữa khách hàng với ngành sản xuất sẽ gần
với cái mà các nhà kinh tế gọi là độc quyền mua – tức là thị trường có nhiều nhà cung cấp nhưng
chỉ có một người mua. Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt giá.
Nếu khách hàng mạnh, họ có thể buộc giá hàng phải giảm xuống, khiến tỷ lệ lợi nhuận của
ngành giảm. Có rất ít hiện tượng độc quyền mua trên thực tế, nhưng vẫn thường tồn tại mối quan
hệ không cân bằng giữa một ngành sản xuất và người mua. Khách hàng có sức mạnh lớn khi:

  • Khách hàng có tính tập trung cao, tức là có ít khách hàng chiếm một thị phần lớn.
  • Khách hàng mua một lượng lớn sản phẩm sản xuất ra trong bối cảnh kênh phân phối hoặc sản
    phẩm đã được chuẩn hóa. Ví dụ thị trường bán lẻ rộng lớn của các hãng Circui City và Sear giúp
    cho họ nắm được quyền lực tương đối để áp đặt giá cả với các nhà sản xuất đồ gia dụng.
  • Khách hàng có khả năng sát nhập hay thậm chí là mua hãng sản xuất. Ví dụ điển hình là các
    nhà sản xuất ô tô lớn rất có thể mua hãng sản xuất lốp xe.
    2.4. Sức mạnh của nhà cung cấp (Supplier Power)
    Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của họ đối với
    doanh nghiệp. Những nhà cung cấp yếu thế có thể phải chấp nhận các điều khoản mà doanh
    nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng lợi nhuận trong sản xuất. Ngược
    lại, những nhà cung cấp lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách, chẳng hạn
    đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ phần lợi nhuận của ngành. Một số yếu tố quyết định sức
    mạnh của nhà cung cấp là:
  • Mức độ tập trung của các nhà cung cấp : Sức mạnh của nhà cung cấp sẽ rất lớn, nếu mức độ tập
    trung của họ cao. Nếu nhà cung cấp của một doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều nhà cung
    cấp khác, thì có khả năng là họ sẽ phải chấp nhận những điều khoản bất lợi hơn, vì doanh nghiệp
    có thể nhanh chóng chuyển sang đặt hàng của nhà cung cấp khác, do đó, nhà cung cấp buộc phải
    chấp nhận tình trạng bị ép giá. Sức mạnh nhà cung cấp tăng lên, nếu mức độ tập trung trong lĩnh
    vực cung cấp cao.
  • Mức độ chuẩn hóa của đầu vào: Việc đầu vào được chuẩn hóa cũng làm tăng tính cạnh tranh
    giữa các nhà cung cấp và do vậy làm giảm sức mạnh của họ, chẳng hạn như mối quan hệ giữa
    các nhà sản xuất lốp (nhà cung cấp) với các nhà sản xuất xe hơi.

Như vậy, sự phân tích môi trường kinh doanh quốc tế nhằm giúp cho công ty thích ứng và thích
nghi trong các hoạt động kinh doanh, giảm thách thức và tăng thời cơ kinh doanh, gia tăng kết
quả và hạn chế rủi ro.
2. Yêu cầu của việc phân tích môi trường quốc gia kinh doanh quốc tế
Doanh nghiệp điều chỉnh các hoạt động của mình cho phù hợp với các yêu cầu và cơ hội ở nước
ngoài nghĩa là doanh nghiệp không thể can thiệp vào môi trường để làm thay đổi nó, trái lại
doanh nghiệp phải tự điều chỉnh cho phù hợp với môi trường mới. Ở đây các phương thức kinh
doanh hoàn toàn mới mẻ.
Về cơ bản, doanh nghiệp phải chấp nhận môi trường nước ngoài, nếu như muốn tham gia vào
hoạt động kinh doanh ở đó. Tuỳ theo hiện trạng của từng môi trường, doanh nghiệp tìm ra cách
thức hội nhập thích ứng, nhằm tạo thời cơ mới cho hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp, cho
phép doanh nghiệp được thực hiện những hình thức kinh doanh nào, hình thức nào là chủ yếu,
hình thức nào được thực hiện…
Để thực hiện các hoạt động kinh doanh có hiệu quả trong môi trường có hệ thống kinh tế, chính
trị, luật pháp, văn hoá… khác nhau, trước hết các doanh nghiệp phải đưa ra những lời giải thích
hữu hiệu cho các vấn đề cơ bản dưới đây:
(1) Ở các quốc gia mà các công ty sẽ hoạt động kinh doanh, cơ cấu chính trị có đặc điểm gì, ảnh
hưởng của nó tới hoạt động của doanh nghiệp ra sao?
(2) Quốc gia đó (nước sở tại) hoạt động theo hệ thống kinh tế nào?
(3) Ngành công nghiệp của nước sở tại thuộc khu vực tư nhân hay công cộng?
(4) Nếu ngành công nghiệp đó thuộc khu vực công cộng thì chính phủ có cho phép cạnh tranh ở
khu vực đó không? Hoặc nếu có ở khu vực tư nhân thì xu hướng có chuyển sang khu vực công
cộng không?
(5) Chính phủ sở tại có cho phép nước ngoài tham gia cạnh tranh hay kết hợp với doanh nghiệp
nhà nước hoặc tư nhân không?
(6) Nhà nước điều hành quản lý các doanh nghiệp tư nhân như thế nào?
(7) Các doanh nghiệp tư nhân phải đóng góp bao nhiêu cho chính phủ để thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ kinh tế chung.
Việc trả lời các vấn đề trên không đơn giản mà khá phức tạp vì sự biến đổi của hệ thống chính
trị, kinh tế, pháp luật… đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, tình hình kinh tế chính trị trên thế giới
đang có nhiều biến động. Tuỳ thuộc vào mục đích và hoạt động kinh doanh cụ thể của mình mà
công ty lựa chọn môi trường kinh doanh cho phù hợp. Dựa vào kết quả nghiên cứu môi trường
kinh doanh quốc tế, công ty phải xác định được nên kinh doanh ở nước nào, hình thức kinh
doanh nào là chủ yếu.

  • Nếu là hoạt động xuất nhập khẩu thì mặt hàng kinh doanh là mặt hàng gì, quy cách, chất lượng,
    phẩm chất, nhãn hiệu, bao bì… như thế nào.
  • Nếu là hoạt động kinh doanh đầu tư thì loại hình nào là thích hợp, nguồn vốn dự kiến là bao
    nhiêu, lấy ở đâu.
    Trên cơ sở kết quả của việc nghiên cứu, phân tích môi trường kinh doanh, cho phép các nhà quản
    lý xây dựng các chiến lược kinh doanh quốc tế: Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ,
    chiến lược đầu tư quốc tế, chiến lược chuyển giao công nghệ, chiến lược cạnh tranh…
    Các chiến lược này được thực hiện có hiệu quả đến mức nào, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào
    khả năng thích ứng và ứng xử linh hoạt của công ty cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường
    kinh doanh.

Muốn vậy, cần nhìn nhận đúng mực và phát hiện kịp thời những thời cơ kinh doanh ở quốc tế, thực thi những hợp đồng kinh doanh phong phú ; lựa chọn thị trường tiềm năng có hiệu suất cao ; linh động thích ứng với những đổi khác có đặc thù toàn thế giới .

CÂU 12: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ?
a. Khái Niệm:
Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán hoặc trao đổi hàng hóa và dịch vụ vượt qua biên giới
của các quốc gia. Các DN KDTMQT phải hđ trong môi trường có tính quốc tế và phải thường
xuyên đối phó với những tác động của môi trường này.
Việc tiến hành các hđ TMQT sẽ tùy thuộc vào các mục tiệu của công ty và các phương tiện mà
công ty lựa chọn thực hiện.
a. Vai trò của TMQT
Đối với DN: TMQT là một bộ phận của nền kinh tế liên quan đến quá
trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ với các nước khác. Mục tiêu đầu tiên
của DN là đạt được lợi nhuận, cụ thể:
 Thông qua TMQT, DN tăng hiệu quả sxkd, mở rộng quy mô và đa dạng hóa
các hđ sxkd, giúp DN đạt đc sư tăng trưởng bền vững.
 KD TMQT giúp nâng cao vị thế của DN, tạo thế và lực cho DN trên thị
trường quốc tế và thị trường trong nước, thong qua việc mua bán và trao đổi
hàng hóa và mở rộng quan hệ bạn hàng.
 KD TMQT có vai trò điều tiết, hướng dẫn sxkd của DN.
o Đối với nền kinh tế quốc dân:
 KD TMQT tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài
nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lđ, tăng thu nhập quốc dân, tăng
hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước
kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh các nhu cầu tiềm
tàng của NTD.
 KD TMQT góp phần mở rộng các QH kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế
và uy tín của VN trên trường quốc tế.
**CÂU 13: TB LÝ THUYẾT VỀ THUYẾT TUYỆT ĐỐI, THUYẾT TƯƠNG ĐỐI VÀ
THUYẾT CẠNH TRANH QUỐC GIA?

  1. Học thuyết về lợi thế tuyệt đối**
    o Tác giả: Adam Smith (scotlen) 1776
    Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm khi sp đó được sản xuất ra với chi phí
    thấp hơn các nước khác (hay năng suất lao động để sản xuất ra mặt hàng đó là cao hơn so với các
    nước khác).
     Vì vậy, quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng mà quốc gia đó
    có lợi thế tuyệt đối và trao đổi với quốc gia khác để nhập khẩu các sp mà quốc gia đó
    không có lợi thế tuyệt đối.
     Lợi thế tuyệt đối chính là cơ sở của TMQT và việc trao đổi buôn bán giữa các quốc
    gia dựa trên sự tự nguyện và các bên cùng có lợi.
    o Đối tượng: ngành sản xuất tương tự ở các quốc gia khác nhau
    o Mô hình lý thuyết lợi thế tuyệt đối:
    Giả sử 2 quốc gia đang tiến hành sx 2 loại: vải và lương thực
    Sản phẩm Việt nam Mỹ Lợi thế tuyệt đối
    Vải (m/h) 1 6 Mỹ

Source: https://ta-ogilvy.vn
Category: Hỏi Đáp