DJ,Nhạc Sàn ,Nhac San

sua nha - sua nha ha noi

du lich cu lao cham


du lich nha trang

Tương lai của truyền thông

Nov 23

Kunda và mình trên diễn đàn

Kunda Dixit là một nhà báo nổi tiếng của Nepal và là chủ nhà xuất bản Himalmedia, nhà xuất bản có uy tín rất cao về tính chuyên nghiệp và lòng tự trọng  ở Nepal. Nhà xuất bản này đã có vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh đòi tự do báo chí và dân chủ ở Nepal trong những năm gần đây. Sau khi nhận bằng cao học về báo chí tại trường tổng hợp Columbia, ông trở thành phóng viên thường trú của BBC World Services tại trụ sở Liên hợp quốc, sau đó làm việc cho  hãng thông tấn Inter Press Services dưới cương vị giám đốc phụ trách châu Á Thái Bình Dương ở Manila. Tại đó, ông đã tham gia vào việc đưa tin và biên tập nhiều tin bài  của khu vực thường  bị các hãng thông tấn lớn tảng lờ. Ông là tác giả của cuốn sách: “Nghề báo khi hành tinh là quan trọng”, được sử dụng ở các trường đại học báo chí trên toàn thế giới, hướng dẫn sinh viên viết một cách có ý nghĩa về các vấn đề môi trường và phát triển. Ông cũng đồng thời là giáo sư của trường đại học Katmandu, tham gia giảng dậy về báo chí và truyền thông.

 

 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TỪ CƠ SỞ

Đưa mắt nhìn khắp thế giới hôm nay, đâu đâu ta cũng thấy chỉ một nền văn hoá  đầy đơn điệu

Sở hữu về truyền thông giờ đây đang dần tập trung vào tay của một số ít người. Ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu  này coi con người như là những người tiêu dùng chứ không phải là các công dân. Nôi dung ngày càng mang tính giải trí, được đóng gói và bán như những những hộp thịt gà Mc Donald nhằm thu hút tối đa lượng độc giả trên toàn thế giới.

Những tiến bộ về công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy nhanh hơn xu hướng này, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Cách đây mười năm, chúng ta còn nghĩ rằng Internet sẽ giúp san bằng những cách biệt trên sân chơi này, mang lại tiếng nói cho những người vốn vô thanh, nhưng chẳng phải chờ đợi lâu, không gian ảo chẳng bao lâu sau cũng bị chi phối bởi chính những thực thể đã thống trị ngành truyền thông truyền thống. Trên thực tế, sự hội tụ của truyền hình, viễn thông và mạng máy tính đã khiến cho các chủ sở hữu trong ngành truyền thông liên kết với các ngành khác để tham gia vào cuộc chơi. Và như vậy, thay vì giảm đi sự cách biệt về công nghệ số hoá, cái hố ngăn cách lại bị khoét sâu thêm.

Chúng ta đã thật ngây thơ khi tin rằng Internet sẽ là một điều gì đó thật khác biệt, mang lại cho những cộng đồng bị lép vế một cơ hội được lên tiếng. Nhưng cái cơ chế thương mại chi phối Internet cũng chẳng khác gì so với cái mà nó đã thay thế. Dường như, để có thể thu hẹp khoảng cách công nghệ số, điều trước tiên chúng ta phải làm đó là giải quyết vấn đề phân biệt về giáo dục, sức khoẻ và thu nhập trong đất nước của chúng ta và trên toàn thế giới.

Đó là lý do tại sao, kể cả khi chúng ta có thể tìm được những thông tin có ý nghĩa trên Internet thì thông tin ấy cũng bị chìm lấp trong mớ hỗn độn thông tin rẻ tiền, những chuyện tầm phào. Những người tìm kiếm những thông tin liên quan và có ý nghĩa cho họ dần đổ dồn về các trang web tạo nên những cộng đồng ảo mà ở đó họ tìm được sự đồng thuận với nhau. Điều này  “ghét-tô” hoá họ, và Internet đã dựng lên những bức tường ngăn cách thay vì xây nên chiếc cầu nối những cộng đồng mong muốn được trao đổi với nhau.

Tất cả những cái đó đã tạo nên những tác động tiêu cực đối với tính đa dạng về văn hóa của loài người, đẩy nhanh hơn quá trình biến mất của nhiều thứ tiếng, lễ hội, bài hát, và các phong cách sống khác nhau. Một số lượng đông đảo người dân trên thế giới được tiếp cận với một thứ văn hoá tiêu dùng toàn cầu thông qua truyền thông đại chúng toàn cầu, chúng làm thay đổi thói quen ẩm thực của con người, quyết định những vấn đề như: xem gì, mặc gì, nói chuyện với ai và nói chuyện như thế nào…Và khi người ta ăn thứ ngũ cốc đã được chế biến thì những loại thức ăn bản xứ biến mất. Khi chúng biến mất thì những người nông dân trồng kê, trồng rau, và trồng lúa mỳ sẽ mất kế sinh nhai. Khi có những con tàu ra khơi đánh bắt cá bằng lưới quét tận đáy thì sẽ không còn đủ cá cho những ngư dân truyền thống nữa và họ sẽ di cư đến sống ở những khu ổ chuột ở các thành phố. Những ngư dân ở miền trung Philippines đã từng sử dụng mười lăm từ khác nhau để chỉ các loại gió thổi qua các hòn đảo của họ, nhưng khi họ không còn đi biển nữa thì những từ ấy cũng biến mất.

Ở Châu Á, chúng ta xem Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc như những đại diện tiêu biểu cho việc truyền thông hiện đại có thể tồn tại song song với bảo tồn văn hoá. Và một điều chắc chắn là bên dưới lớp vỏ bên ngoài của phong cách ăn mặc và ứng xử  âu hoá, báo chí đã giúp người dân những nước  này vừa quảng bá vừa bảo tồn nền văn hoá của họ.

Về điều này, Nam Á không được thành công cho lắm. Nội dung của truyền thông được cung cấp qua ngôn ngữ địa phương không luôn đồng nghĩa với việc nó bảo vệ các giá trị và văn hoá bản địa. Có những vở kịch dài kỳ bằng tiếng Hindi trong đó các tình tiết hầu như được copy lại y nguyên những seri phim truyền hình mang tính cải lương như: “Dallas”, “Bold and Beautiful”. Những chương trình này đều mang một vẻ như nhau, các sản phẩm được quảng cáo là tất cả những vật dụng tiêu dùng do các công ty đa quốc gia sản xuất. Hầu như không mấy ai nghĩ đến phong cách sống khác, không ai dám tán thành việc hạn chế tiêu dùng lãng phí để bảo vệ bầu sinh quyển của trái đất.

Kết quả là truyền thông toàn cầu đang trực tiếp và gián tiếp quảng bá cho một lối sống không bền vững mà sẽ không mang lại kết cục tốt đẹp nào trong tương lai. Người ta cứ sử dụng một mức tiêu thụ năng lượng giống như một gia đình Mỹ tiêu thụ, và đốt nguồn năng lượng hoá thạch như thể sẽ không có ngày mai. Nước Mỹ với dân số chỉ chiếm 2% dân số thế giới lại tiêu dùng đến 25% tài nguyên của thế giới. Ấn Độ, và Trung Quốc – với 25% dân số thế giới sẽ cần đến 2 quả đất nếu như công dân của các nước này sống theo kiểu Mỹ. Truyền thông định nghĩa cụm từ “giàu có” và “sung túc” theo nghĩa hẹp, không tính đến việc tiêu dùng mang lại những gì cho trái đất.

Cái cách để thay đổi xu hướng đó là làm cho mọi người nhận thức được những hành vi và hành động của họ có ảnh hưởng  như thế nào đến tự nhiên và con người. Liệu sự sung túc của họ có làm cho kẻ khác nghèo đi không? Truyền thông nên nói cho con người biết hậu quả của tất cả những gì họ mua sắm, sử dụng, hay tiêu thụ. Nhưng ngày nay, giới truyền thông lại không đặt ra những câu hỏi này, vì thế con người không nhận thức được. Và khía cạnh đáng lo ngại nhất có thể thấy trong các hoạt động chính trị. Truyền thông thuộc sự sở hữu và kiểm soát của ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu không mang gì đến những giá trị phục vụ công cộng. Khi truyền hình, truyền thanh, và Internet được coi như một công cụ marketing thì không có sự khác nhau giữa việc bán một chiếc bánh hamburger với bán một tờ báo. Mục đích là nhằm tối đa hoá lượng độc giả sao cho sự hâm mộ của công chúng có thể chuyển thành lợi nhuận thương mại. Internet cũng đã rơi vào lối mòn này: làm thế nào để biến những cặp mắt dõi theo trang web thành những đồng đôla?

Các công dân bị chủ nghĩa thoát ly thực tế của truyền thông đại chúng biến thành lãnh đạm và mê tín. Khi tin tức được đưa ra, nó được coi như một môn thể thao thu hút nhiều khán giả và như một cuộc cãi lộn không ngớt giữa những câu chuyện của ngày hôm nay với những câu chuyện của ngày hôm qua. Truyền thông không có đủ thời gian mà cũng chẳng thể vượt ra ngoài chiến lược hành động của các hoạt động chính trị để phân tích, giảng giải những vấn đề giúp cho ai ai cũng hiểu được.

Trong một nền dân chủ, đây là một sai lầm tai hại. Nếu truyền thông không truyền tải thông tin và khách quan khuyến khích tranh luận về các vấn đề thì các chính sách không thể được xây dựng. Dân chủ cần sự tham gia của công chúng mà để có được sự tham gia của công chúng lại cần đến một môi trường truyền thông sôi động và đa chiều. Truyền thông là một phần thiết yếu của mạch phản hồi cho phép công dân và những nhà cầm quyền biết được cái gì đang diễn ra trong xã hội để từ đó đưa ra hành động hợp lý. Không có mạch phản hồi thì các quyết định đưa ra có thể sẽ sai lệch, nhầm lẫn, bị trì hoãn, hay bị bóp méo. Để có thể duy trì nền dân chủ, các kênh truyền thông phải thực sự trong sạch, sắc sảo và đáng tin cậy. Các chính phủ phải đối đãi ngành truyền thông khác hơn so với các ngành công nghiệp chế tạo khác, nó cần sự quan tâm sát sao hơn.

May thay, cũng có khá nhiều yếu tố chống lại khuynh hướng thương mại hoá cao độ của giới truyền thông đang lan rộng khắp thế giới. Tầng lớp những người bình dân, cộng đồng cư dân địa phương đang sử dụng mạng lưới truyền thông địa phương nhằm phát triển truyền thông theo chiều ngang để thông tin không chỉ mang tính giải trí mà còn có sức mạnh chiến đấu. Họ đang tìm lại những giá trị của dịch vụ công cộng cho phép sự tham gia của công chúng trong quá trình ra quyết định, khuyến khích công chúng tranh luận các vấn đề để họ có thể đánh giá được sự lựa chọn của họ, đồng thời cho phép các nhà lãnh đạo có thể tiếp xúc, tương tác với họ.

Ở nơi nào mà truyền thông cơ sở phát huy tác dụng vốn có của nó thì ở đó nền dân chủ mới được củng cố vững chắc và do đó đem đến sự phát triển. Ở nơi nào mà truyền thông không đầy đủ và không phù hợp thì ở đó thiếu đi nền dân chủ từ gốc rễ và sẽ không có được sự phát triển.

Ở Thái lan, Philippines và Indonesia, sự phát triển của truyền thanh cộng đồng đã trực tiếp mang đến tiếng nói cho các cộng đồng người dân sống ở vùng nông thôn và vì thế người dân ở đây được lắng nghe. Còn ở vùng nông thôn Ấn Độ, truyền thanh chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ, rất kém phát triển và kém gắn bó. Tại đất nước của tôi, Nepal, chúng tôi đã được chứng kiến truyền thông cơ sở đã giúp các cộng đồng ở đây như thế nào để họ có thể có tiếng nói trong cuộc sống và có thể điều khiển được vận mệnh cuộc đời mình. Điều này đã làm thay đổi thái độ của họ: biến họ từ những người tin vào số mệnh, những người nông dân bị động trở thành những công dân nhạy bén về mặt chính trị, những người biết rất rõ và có yêu cầu về quyền lợi cho bản thân mình. Những sự kiện chính trị trong năm nay ở Nepal là kết quả trực tiếp của việc truyền thông tới dân chúng đã giúp có được những giá trị dân chủ từ gốc rễ như thế nào.

Khắp châu Á, việc chuyển giao quyền quyết định cho các cộng đồng địa phương cũng đang giúp thay đổi cách người ta ra quyết định, chủ yếu dựa vào việc sử dụng và chia sẻ tài nguyên thiên nhiên như thế nào. Cách đây hai mươi  năm, truyền thông quốc tế đã thổi phồng lên rằng nghèo đói đang buộc những người dân ở vùng núi Himalaya phải chặt phá rừng do đó gây ra xói mòn, sụt lở đất và lụt lội ở Ấn Độ, Bangladesh. Điều này phần nào đúng sự thật nhưng những gì mà truyền thông không đưa tin đó là dãy núi Himalaya Nepal ngày nay đang chứng kiến sự tái sinh của các khu rừng và độ bao phủ nhiều hơn 15% so với năm 1980. Điều này có được là nhờ cộng đồng cư dân địa phương đã được trao quyền tự quyết định bảo vệ và sử dụng nguồn rừng ở địa phương.

Không phải là một sự trùng hợp khi hai mô hình phát triển nông thôn khác của Nepal đã thành công nhờ vào những nỗ lực của các cộng đồng: cộng đồng cư dân sống ở rừng và cộng đồng của hệ thống truyền thanh. Cả hai cộng đồng này đã hỗ trợ lẫn nhau và cùng nhau giúp cộng động dân cư bên kia dãy Himalaya dành lại lòng tự trọng của mình và làm cho họ có được cảm giác độc lập hơn.

Suy cho cùng, đây là điều mà nền chính trị trong một chế độ dân chủ phải làm để nâng cao mức sống của người dân. Và đây cũng là nơi vai trò của một ngành truyền thông phi tập trung được phát huy cao độ. Truyền thông mang tính thương mại toàn cầu không phải là giải pháp, ngược lại, nó là một phần của vấn đề.

***

Nguyễn Thanh Sơn: Chiều qua, kênh truyền hình AXN của Nhật chiếu lại bộ phim Shattered Glass của hãng Lion Gate, bộ phim mà nhiều người nói, và tôi cũng đồng ý, là phải được chiếu cho toàn bộ các khoa báo chí của các trường đại học xem.

Kunda Dixit: Tôi nhớ rồi, đó có phải là bộ phim về phóng viên trẻ Steven Galss của tờ The New Republic, người đã dùng cách bịa ra một phần, hoặc toàn bộ các bài báo của mình để được nổi tiếng?

Nguyễn Thanh Sơn: Đúng vậy. Chúng ta có thể dùng ngay bộ phim đó để bắt đầu cho cuộc trao đổi của chúng ta. Cho dù Steven Glass không phải người đầu tiên, không phải người cuối cùng, nhưng phải chăng chúng ta đang có những vấn đề lớn về đạo đức của nghề báo? Sau gần ba mươi năm làm nghề báo, ông nghĩ nghề báo đã có những thay đổi nào, so với mười lăm năm trước, khi ông đang còn là phóng viên của BBC? Ông nói cái làm ông thất vọng nhất, đó là cách cư xử của giới truyền thông trong việc đưa tin về các cuộc xung đột. Ông đã nói, giới truyền thông làm cho các cuộc xung đột trở nên tệ hại hơn?

Kunda Dixit: Sau hơn mười lăm năm làm nghề báo, đưa tin về hàng loạt các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới, tôi quay trở về Nepal và đối mặt với một cuộc xung đột vũ trang ở ngay quê hương của mình. Có một sự khác biệt rất lớn trong việc bạn đưa tin về các cuộc chiến tranh “ở nơi khác” so với đưa tin về cuộc chiến tranh của chính bạn, trên chính Tổ quốc mình. Và tôi thấy mình cần phải định nghĩa lại nghề báo, định nghĩa lại cách truyền thông về các cuộc xung đột, định nghĩa lại trách nhiệm của phóng viên. Tại các trường báo chí phương Tây, họ dậy chúng tôi rằng giới truyền thông sống được là nhờ các cuộc xung đột, các cuộc chiến tranh, rằng đưa những tin tiêu cực là cách tồn tại của giới truyền thông, rằng phóng viên không được can thiệp vào các sự kiện, mà chỉ là “người quan sát”, “người đưa tin”. Còn nếu như phóng viên đưa tin về những thoả hiệp, đưa tin về những giải pháp- đó không phải là “tin”. Và như thế, truyền thông về các cuộc chiến tranh hay xung đột không phải là một giải pháp, mà chính nó trở thành một phần của vấn đề.

Nguyễn Thanh Sơn: Vâng, người ta đã đánh dấu hỏi về đạo đức của nghề báo khi phóng viên chụp ảnh một con chim kền kền đang rình mò một đứa trẻ châu Phi sắp chết đói. Nhưng như vậy có nghĩa là giới truyền thông phải lựa chọn vị trí mình đứng, và như vậy thì không còn có thông tin khách quan nữa?

Kunda Dixit: Martin Bell, một cựu phóng viên của BBC, đã đưa ra một quan niệm mới nói về một nghề báo, một “nghề báo của sự gắn bó”, tức là một nghề báo phải quan tâm nhiều như biết. Là phóng viên thường trú tại Sarajevo trong 43 tháng của cuộc chiến tranh, ông mạnh mẽ đòi hỏi phóng viên báo chí phải lựa chọn chỗ đứng của họ, chỗ đứng bên cạnh lẽ phải và sự công bằng.

Nguyễn Thanh Sơn: Chiến tranh Iraq có lẽ là một ví dụ tốt, nếu như chúng ta so sánh cái cách báo chí đưa tin về chiến tranh Iraq so với chiến tranh Việt nam. Trong chiến tranh Việt nam, giới truyền thông đã làm được việc mà như người ta nói, “đưa cuộc chiến tranh vào phòng ngủ của nước Mỹ”. Rất nhiều phóng viên đã đưa tin về chiến tranh nhìn từ góc độ của những nạn nhân của chiến tranh, và ngay khi đưa tin dưới cái nhìn của những người lính Mỹ thì cũng đưa tin dưới những góc độ khác nhau, trong đó có góc độ của những nạn nhân. Chứ còn cái cách giới truyền thông đưa tin về chiến tranh Iraq thì…

Kunda Dixit: Chúng ta phải nói cụ thể là giới truyền thông Mỹ. Chính phủ Mỹ đã học được rất nhiều từ cuộc chiến tranh Việt nam, họ hiểu rằng, trước khi thua trong cuộc chiến thực sự, thì từ lâu họ đã thua trong cuộc chiến truyền thông. Và vì thế họ đã chuẩn bị rất cẩn thận cho những cuộc chiến tranh hoặc xung đột sau này. Hãy xem từ Grenada, Panama, chiến tranh Iraq lần thứ nhất cho đến chiến tranh Iraq lần thứ hai, giới truyền thông Mỹ đã chỉ đưa những thông tin mà chính phủ Mỹ và bộ Quốc phòng Mỹ muốn đưa, đặc biệt là truyền hình. Nếu cứ tin theo những hình ảnh của truyền hình Mỹ, thì đây là những cuộc chiến tranh không có đổ máu. Chúng ta không thấy những hình ảnh máu me, chết chóc trên truyền hình, không thấy các nạn nhân, không thấy dân thường. Tất cả những gì mà chúng ta thấy là hình ảnh của các loại vũ khí thông minh, những quả bom được lái và định hướng, ánh laser và chớp sáng của những vụ nổ. Người ta cho chúng ta thấy một cuộc chiến tranh như một trò chơi video. Và điều kinh khủng nhất là giới truyền thông tham gia vào việc trở thành một công cụ của chiến tranh một cách tự nguyện. Tất nhiên dưới ảnh hưởng của vụ 11/9, người Mỹ đang có nhu cầu được đấm vỡ mũi một địch thủ nào đó, nhưng truyền hình Mỹ đã hoàn toàn mất đi tính độc lập và khách quan của nghề báo, và điều đó thật đau buồn. Tôi không chỉ nói về Fox News, nhưng cái chính là Fox News đã kéo theo cả cái cách mà CNN đưa tin về cuộc chiến tranh Iraq.

Nguyễn Thanh Sơn: Ông nói là ông có hai điều thất vọng về giới truyền thông ?

Kunda Dixit: Vâng, điều thất vọng thứ hai là Internet. Internet đã không làm được cái mà người ta tưởng nó có thể làm được: làm cho thế giới trở thành một ngôi nhà chung, làm cho con người và các dân tộc gần gũi với nhau hơn.

Nguyễn Thanh Sơn: Trong bài viết của mình, ông có nói đến việc thay vì xoá bỏ các rào cản giữa các cộng đồng, Internet lại “ghét-tô” hoá con người, và người ta chỉ đọc những gì người ta muốn đọc, chỉ tham gia vào các cộng đồng ảo đồng chủ kiến với họ, tóm lại là dựng nên các hàng rào thay vì xoá đi các hàng rào. Đó là một cái nhìn rất đáng quan tâm, nhưng liệu có bi quan quá không? Internet, dù sao đi chăng nữa, cũng tạo điều kiện cho những người chưa bao giờ được lắng nghe có quyền lên tiếng. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển…

Kunda Dixit: Không phủ nhận Internet đã làm được rất nhiều việc, nhưng tôi không chịu được chuyện có rất nhiều người coi Internet là một cây đũa thần kỳ có thể giải quyết được tất cả mọi việc. Internet là hình ảnh phản ánh thế giới của chúng ta đang sống, với tất cả những chia rẽ về chủng tộc, tôn giáo, chính trị, quốc gia. Người ta đã từng kỳ vọng truyền hình vệ tinh có thể đem các quốc gia tiến gần đến với nhau hơn, nhưng nó không làm được điều đó. Internet cũng vậy, nó không bắc được những cây cầu giữa các dân tộc như nhiều người lầm tưởng.

Nguyễn Thanh Sơn: Vậy vấn đề của Internet ở những nước đang phát triển ở châu Á là gì?

Kunda Dixit: Có hai vấn đề, một là khả năng tiếp cận, và thứ hai là chi phí. Khi chúng ta nói đến khả năng tiếp cận, chúng ta nói đến ngôn ngữ. Mặc dù nội dung tiếng Anh trên mạng đã giảm từ 95% xuống khoảng 75%, ngôn ngữ tiếng Anh của các nội dung trên mạng vẫn là một rào cản lớn đối với những người mà ngôn ngữ tiếng Anh không phải ngôn ngữ mẹ đẻ, kể cả ở những nước mà tiếng Anh rất phổ biến như Nepal. Chi phí cho một người sử dụng Internet có thể không phải là lớn đối với tầng lớp trung lưu châu Á, nhưng đừng quên là có biết bao nhiêu người dân châu Á sống dưới, hoặc ngang bằng với mức nghèo khổ. Đối với họ, khoản tiền để mua máy tính, phí điện thoại, hay thậm chí ra quán cà phê Internet cũng là một khoản tiền không nhỏ. Và như vậy, Internet lại đào sâu “khoảng cách số” giữa các tầng lớp trong xã hội. Ý kiến của tôi là, một khi anh chưa tận dụng hết mức các phương tiện truyền thông truyền thống, thì cũng đừng mong gì anh tận dụng được Internet trong việc đem thông tin và kiến thức đến cho quần chúng lao động. Hãy cứ lấy một ví dụ như đài truyền thanh chẳng hạn. Ở một đất nước đồi núi như Nepal, đài truyền thanh là một phương tiện cực kỳ hữu hiệu cho quần chúng, và chúng tôi đã tận dụng rất tốt phương tiện này. Vấn đề là chúng tôi đã “địa phương hoá” các chương trình truyền thanh, giảm việc phát các chương trình quốc gia để tập trung vào các chương trình địa phương. Thông qua đài truyền thanh FM địa phương, người dân có điều kiện nói lên tiếng nói của mình, vấn đề của mình, thu nhận thông tin trên thế giới- với một chi phí rất rẻ. Tôi là người ủng hộ đài truyền thanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

Nguyễn Thanh Sơn: Chúng ta đã nói nhiều đến công cụ truyền thông, vậy còn nội dung truyền thông thì sao?

Kunda Dixit: Vâng, anh cũng thấy về nội dung, trên Internet có quá nhiều thứ rác rưởi, và lượng rác trên Internet càng ngày càng khổng lồ. Thời gian để con người tìm ra một thứ đáng đọc càng ngày càng nhiều lên. Vai trò của các công cụ tìm kiếm với bộ lọc thông minh sẽ càng được đề cao. Internet, trong khi trao quyền tự do cho con người phát biểu ý kiến, thì lại không góp phần xây dựng được ý thức của người viết, để họ hiểu rằng tự do của anh có giới hạn trong mối tương quan với tự do của người khác, cho nên, nó mở đường cho chủ nghĩa cực đoan trên Internet, với rất rất nhiều những thảo luận, tranh luận cực đoan. Internet là hình bóng phản ánh sự chia rẽ của chúng ta.

Nguyễn Thanh Sơn: Với sự đóng cửa của một số tạp chí và báo lớn như Far Eastern Economics Review hay Asia Wall Street Journal (và một số tạp chí danh tiếng khác cũng gặp phải những khó khăn về tài chính), ông có nghĩ là báo chí nghiêm túc đã thua trong cuộc cạnh tranh với báo chí thuộc, như ông gọi, một nền văn hoá tiêu dùng toàn cầu? Là chủ bút kiêm nhà xuất bản của Nepali Times, ông đã đối mặt với cuộc cạnh tranh đó như thế nào?

Kunda Dexit: Tôi nghĩ các tạp chí như FEER và AWSJ đã thua vì Internet. Độc giả ngày nay khó lòng chờ đợi một khoảng thời gian dài chỉ để đọc các bài báo nghiêm túc, bình luận các vấn đề lớn. Họ cần ngay bây giờ, ngay ở đây, và Internet cho họ khả năng đó. Tôi không nghĩ là báo giấy đã đến lúc cáo chung, vẫn còn những độc giả muốn đọc một tờ báo ở bất cứ đâu, cho nên khả năng linh hoạt của báo giấy vẫn là một lợi thế của nó, nhưng độc giả của nó càng ngày càng thu hẹp lại. Một ấn phẩm báo điện tử sẽ thất bại nếu nó chỉ là bản điện tử của một tờ báo giấy. Một tờ báo điện tử phải được tăng cường các dịch vụ giá trị gia tăng và khả năng tương tác, ví dụ như sử dụng truyền thông đa phương tiện, liên kết với các blog, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với tác giả, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với nhau…vv. Như các trang điện tử của BBC hay đặc biệt là Gurdian Unlimited chẳng hạn, họ đã làm rất tốt chuyện đó. Đó cũng là hướng đi với tờ Nepali Times của chúng tôi.

Nguyễn Thanh Sơn: Nếu như có một dự đoán cho tương lai của truyền thông châu Á?

Kunda Dexit: Tôi nhấn mạnh vai trò của truyền thông cho quần chúng ở địa phương, và vai trò “địa phương hoá” nội dung, cho dù chúng ta dùng công cụ truyền thông gì, đài truyền thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử hay Internet

Nguyễn Thanh Sơn: Cám ơn ông.

Cái chết của Báo chí

Nov 22

Adrian Monck: báo chí truyền thống đã chết

“Quan hệ báo chí theo kiểu cũ đã chết”- ông Miles Young, Tổng giám đốc của tập đoàn truyền thông tiếp thị Ogilvy viết trong bài phát biểu của ông tại hội nghị những nhà lãnh đạo của tập đoàn này ở Praha.

“Báo chí truyền thống đang chết, hoặc thực ra đã chết rồi”- Adrian Monck giám đốc phụ trách báo chí và truyền thông cho Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói tại hội nghị những nhà kiến tạo toàn cầu (Global Shapers) của Diễn đàn Kinh tế thế giới tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ. Là cựu trưởng khoa báo chí của trường đại học City Of London University, ông Monck có một sự nghiệp báo chí lừng lẫy.  Bắt đầu từ phóng viên tin tức của hãng CBS News vào năm 1987, ông đã theo dõi và tường thuật  các vụ khủng hoảng con tin ở Li-băng, chiến tranh Iran-Iraq, việc trả tự do cho Nelson Mandela, sự sụp đổ của nhà nước Liên Xô và bức tường Berlin cho đến chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, sau đó ông còn là phóng viên của ITN với các phóng sự về  chiến tranh từ Belfast tới Bosnia,  phóng viên truyền hình của Five News với chiến tranh ở Kosovo, Afghanistan, Irag.

“Báo chí, xét cho cùng, là ngành sản xuất kiến thức thông qua từ ngữ và những con số”-ông Monck nói. Toàn bộ thói quen tiêu dùng về truyền thông của chúng ta ngày nay đã thay đổi. Báo chí không còn độc quyền tin tức, không còn tạo dựng thương hiệu cho tin tức. Tin tức ngày nay chỉ còn là hàng hóa phổ thông, được trao đổi miễn phí giữa các cộng đồng trôi nổi trên mạng Internet. Người ta có thể có được tin tức toàn cầu dù họ ở bất cứ đâu trên thế giới. Công nghệ và cách tổ chức thông tin hiện tại đã dày xéo ảo tưởng của các tờ báo và tạp chí về sự cần thiết của các phân tích chuyên sâu, những góc nhìn thông minh, những đánh giá sắc sảo của các nhà báo- ngày nay, người tiêu dùng thông tin tự trao cho mình quyền lực đó. Với các phương pháp tra cứu tức thời và thói quen chia sẻ trên mạng, người đọc sẽ tự quyết định cho mình góc nhìn, phân tích và đánh giá- thứ trước kia họ bị lệ thuộc vào các phóng viên hay chuyên gia. Ngôn ngữ, rào cản cuối cùng cho việc tiếp xúc với thông tin toàn cầu, hiện nay cũng đang dần dần được giải quyết. Rick Rashid, Giám đốc Nghiên cứu của Microsoft Research, ngày 28 tháng 10 vừa qua đã trình diễn một cách hết sức thuyết phục cách thức máy tính tiến hành dịch nói một ngôn ngữ phức tạp như tiếng Hoa sang tiếng Anh- các phần mềm dịch thuật tự động sẽ càng ngày càng được hoàn thiện.

Báo chí, không thể không lưu ý, cũng tự đào mồ chôn mình bằng việc cho rằng, Internet cũng chỉ là một nền tảng mới cho xuất bản báo chí. Bằng chứng là họ đã rất sớm có ý thức xây dựng nên các tờ báo mạng, nhưng như ông Jack Shafer, phụ trách mục Ý kiến trên trang Reuters.com nói “ cho dù đón nhận sự phát triển của Internet rất sớm, cho dù bỏ hàng triệu đô la cho nhân lực và phần cứng, bất kể hàng đống video, đường dẫn, ngân hàng dữ liệu, các phần mềm thông minh…người đọc dễ dàng nhận ra các tờ báo mạng thực ra chỉ là phiên bản mạng của các tờ báo giấy”. Họ không hiểu được rằng, tổ chức thông tin trên mạng Internet và cách người tiêu dùng ngày nay sử dụng các thông tin đó hoàn toàn khác biệt với cách tiêu dùng thông tin truyền thống.

Vậy còn vai trò của chính phủ thì sao? Ông Adrian nhún vai “ đối với báo chí độc lập truyền thống, chính phủ còn làm cho bức tranh tồi tệ thêm. Hãy xem cái cách họ đổ tiền cho truyền hình và các trang mạng của BBC hay France 24. Trong tình hình kinh tế hiện nay, làm sao báo chí truyền thống có thể cạnh tranh với các chính phủ?”

Và đó chính là những lý do tại sao kết cục của báo chí độc lập truyền thống sẽ thật bi thảm…

Premier Night for our “3G Citizens” Documentary Series

Nov 22

Đánh giá lại giá trị của một công ty PR

Nov 22

Tuần trước, một công ty hàng đầu thế giới có đề nghị gặp tôi ở Singapore để thảo luận về kế hoạch truyền thông của họ tại Việt Nam. Đây là công ty chúng ta đã cố gắng tiếp cận trong vòng ba năm qua với rất ít kết quả. Tại sao nay họ lại muốn thay đổi đại diện truyền thông? Lý do: đại diện truyền thông của họ ở Việt Nam không ngừng nói với họ, muốn đưa được thông tin lên báo chí Việt Nam thì phải trả tiền. Muốn đăng một bài báo về sản phẩm mới được tung ra thị trường của họ ư? Tiền! Muốn trả lời phỏng vấn về một vấn đề mà họ nghĩ công chúng quan tâm ư? Tiền! Muốn phóng viên tham gia lễ ký kết một hợp đồng quan trọng của họ với đối tác Việt Nam ư? Tiền!

Đối với họ, cũng như đối với nhiều khách hàng của chúng ta, vấn đề đặt ra không phải vấn đề tiền bạc. “Nếu như thực tế ở Việt Nam, cứ muốn lên báo là phải trả tiền, chúng tôi cũng sẽ chấp nhận. Vấn đề của chúng tôi là, nếu vậy thì giá trị của đại diện truyền thông là ở đâu? Nếu như chỉ cần trả tiền là có thể lên báo, vậy có lẽ tốt nhất chúng tôi nên làm việc với các công ty media để đặt chỗ là xong. Tôi sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh với sếp của tôi lý do tại sao tôi lại phải có đại diện truyền thông tại Việt Nam”.

Đây là thực tế mà các bạn luôn gặp phải trong thời gian hai năm vừa qua. Một điều chúng ta không thể chối bỏ là báo chí đã trở thành một ngành công nghiệp chứ không còn là một ngành hoạt động công ích như trong quá khứ. Là một ngành công nghiệp, nó phải quan tâm nhiều hơn đến việc bán các sản phẩm của mình để tồn tại, bởi vì bản thân nó cũng đang đối mặt với những vấn đề mang tính sống còn. Một số người trong các bạn hẳn còn nhớ, cách đây hơn một năm, Tổng giám đốc của chúng ta, ông Miles Young đã có một bài viết nổi tiếng “Cái chết của quan hệ báo chí”. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng, điều đó còn xa xôi lắm, cho đến khi các bạn nhận ra rằng, thực ra nó đến với Việt Nam nhanh hơn chúng ta tưởng nhiều. Chúng ta phải hiểu rằng, quan hệ báo chí theo kiểu cũ đã chết.

Vậy đối với những người làm việc trong lĩnh vực quan hệ báo chí, chúng ta hoặc phải đổi mới, phải định giá lại giá trị công việc của chúng ta, hoặc sẽ “chết” theo (hoặc bị đày đọa cho đến chết) nếu cứ tiếp tục làm việc theo kiểu cũ. Tôi có phác thảo ra một số hướng về giá trị cho đại diện của công ty công nghệ kia, và họ có vẻ tán đồng với nhận định đó:

Thứ nhất, “tôn vinh những giá trị cũ, nhưng phải nỗ lực gấp đôi”: rà soát để thu hẹp danh sách báo chí, tập trung vào những tờ báo và các phóng viên vẫn duy trì niềm tin vào giá trị của thông tin có lợi cho công chúng chứ không phải vào khoản tiền mà khách hàng chúng ta mang tới. Hiểu rõ độc giả của tờ báo họ quan tâm đến vấn đề gì, hiểu rõ họ quan tâm đến vấn đề gì, hiểu rõ các chủ đề mà Ban biên tập quan tâm, hỗ trợ tối đa về thông tin, khía cạnh khai thác, ý kiến chuyên gia, hình ảnh…để họ có thể phát triển bài viết. Song song với hoạt động ngắn hạn, tăng cường hoạt đông dài hạn bằng việc xây dựng “vị thế lãnh đạo về tư duy” (thought leadership) cho khách hàng của mình. Hãy xem rất nhiều khách hàng của chúng ta luôn được báo chí tìm đến chứ không phải tìm đến báo chí. Tại sao? Thought leadership!

Thứ hai, khác biệt về giá trị của một công ty PR với một công ty media là gì? Công ty media có thể có hiểu biết về kênh (channel), nhưng họ lại thiếu hiểu biết về con người (influencers). Đối với họ, một bài viết ở cùng một vị trí, trên cùng một tờ báo có giá trị như nhau, nhưng chúng ta hiểu rằng, có một sự khác biệt rất lớn nếu như tác giả của bài báo đó là những người khác nhau. Một bài viết về kinh tế vĩ mô của một phóng viên không ai biết khác hẳn với bài viết của, ví dụ, cô Phạm Chi Lan. Một bài nhận định về thị trường Chứng khoán của phóng viên X. Y sẽ có ảnh hưởng ít hơn nhiều so với bài viết của, ví dụ, chị Hải Lý. Đo lường độ ảnh hưởng của một bài viết không thể thiếu yếu tố con người, và chúng ta phải chứng minh rằng chúng ta hiểu biết về những người gây ảnh hưởng (influencers) tốt hơn tất cả các công ty quảng cáo hay media gộp lại

Thứ ba, nếu như ngay cả điều đó chúng ta cũng không làm được, vậy thì chúng ta phải chứng minh rằng tự chúng ta có thể sản xuất ra những nội dung hấp dẫn hơn, ít nhất là 5-10 lần những phóng viên trung bình khác- công ty PR phải trở thành công ty phát triển nội dung. Chúng ta phải sản xuất ra những nội dung đặc sắc, hấp dẫn, hiện đại khiến cho độc giả yêu thích và mong muốn. Cùng với việc phát triển nội dung, chúng ta phải tự phát triển kênh truyền thông của chúng ta. Công nghệ thông tin cho phép chúng ta làm được điều đó: blogsphere và mạng xã hội cho chúng ta khả năng làm báo, Youtube và website cho chúng ta khả năng làm truyền hình, các loại podcast cho chúng ta làm radio… Đó là lý do tại sao Lucas Penneti, giám đốc toàn cầu bộ phận khách hàng Công nghệ của chúng ta nói “ngày nay mỗi một công ty có thể trở thành một tờ báo”. Vậy trước khi biến khách hàng của chúng ta thành một tờ báo, tại sao chúng ta không làm như vậy cho bản thân chúng ta? Bộ phận Social@Ogilvy của chúng ta đang bước những bước đi đầu tiên trên con đường đó, và cứ nhìn theo tốc độ phát triển của họ, tôi nghĩ đã tới lúc tất cả chúng ta phải bước lên con đường đó, nếu không sẽ là quá muộn

Tóm lại, đời đang thay đổi, và thực sự mà nói, đã không còn chỗ cho những ai không chịu thay đổi theo ngành công nghiệp của chúng ta. Sự thay đổi của báo chí không phải theo chiều hướng xấu đi hay tốt hơn, đơn giản là nó chỉ thay đổi, và hoạt động quan hệ báo chí của chúng ta cũng phải thay đổi. Mong các bạn suy nghĩ nhiều hơn về điều đó, bởi vì nếu không, đối thủ cạnh tranh của chúng ta sẽ được gọi sang Singapore, chứ không phải chúng ta

Chuyển giao Quyền lực tại Trung Quốc- Báo cáo của bộ phận QHCP OgilvyPR

Nov 21

Sáng thứ Năm, ngày 15/11/2012, ông Tập Cận Bình đã sải bước trên thảm đỏ của Đại Lễ đường Nhân dân, theo sau là 6 thành viên của Ban thường vụ Bộ Chính trị, hoàn tất cục diện mới trên bản đồ chính trị của Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh trong bài phát biểu đầu tiên trên cương vị Tổng Bí thư: “Hôm qua, Đại hội lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi. Chúng ta cũng vừa hoàn tất Phiên họp toàn thể đầu tiên của Ban chấp hành Trung ương thứ 18 và bầu ra Ban lãnh đạo mới.”

Dù ông Tập Cận Bình đang từng bước vững chắc mở ra một chương mới và dẫn đầu thế hệ lãnh đạo hiện đại của Đảng Cộng sản, chúng ta cũng cần lưu ý đến tính kế tục trong hệ thống chính trị Trung Quốc, khi đội ngũ của ông Tập Cận Bình vẫn duy trì tính bảo thủ cố hữu trong Đảng, ngay cả khi họ đang đối diện với một tương lai đầy phức tạp và khó khăn.

Kết quả bầu cử trùng hợp với dự đoán của đa số giới quan sát Trung Quốc, giúp chúng ta có thể định hình viễn cảnh của 10 năm tới. Dưới đây là tổng hợp một số xu hướng và thông điệp nổi bật của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18:
Kế tục đường lối

Trong bản báo cáo dài 64 trang đọc trước Quốc hội, nguyên Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã đặt nhiệm vụ cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp khi ông nhấn mạnh Đảng cần “giữ vững con đường cải cách và mở cửa” và “hoàn thành việc phát triển một xã hội tương đối thịnh vượng”. Ông cũng khẳng định “triển vọng phát triển khoa học” của ông đã được đưa vào Điều lệ Đảng.

Việc nhấn mạnh mục tiêu duy trì ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, trong quá trình chuyển giao quyền lực, giúp tạo cơ sở để tiếp tục truyền bá mạnh mẽ tư tưởng Đảng Cộng sản và bảm đảm ổn định chính trị.  Không có quan điểm của phe phái chính trị nào được ưu ái trong cả tuần lễ biểu dương các thành tựu có thể lượng hóa “bằng con số”, xác định mức tăng trưởng của Trung Quốc, và khẳng định những di sản để lại cho thế hệ kế tục, được tổ chức nhằm kỷ niệm 10 năm lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào.
Lược bỏ chủ đề cải cách chính trị

Đại hội lần này cũng ít đề cập đến cải cách cơ cấu chính trị. Lần cuối cùng chủ đề này xuất hiện nổi bật trong chương trình nghị sự Đại hội Đảng là năm 1987, và kể từ đó, không còn thường xuyên được nhắc lại. Bất chấp sự thúc đẩy mạnh mẽ của phe cải cách trong thời gian chuẩn bị cho Đại hội Đảng, trong đó có cả việc lưu hành rộng rãi một bài báo ủng hộ cải cách của Hồ Đức Bình (Hu Deping) (con trai cựu Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang), cải cách chính trị vẫn không được nhắc tới trong cả tuần nghị sự. Hai nhà cải cách được trông đợi nhiều nhất, Uông Dương (Wang Yang) và Nguyên Triều (Yuan Chao), đã không có tên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị.

Mặc dù nội bộ Đảng còn do dự trong việc thảo luận về cải cách cơ cấu chính trị, có rất nhiều bằng chứng thể hiện việc các nhà lãnh đạo đã bắt đầu quan tâm đến sự cần thiết phải thay đổi và cải thiện. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong hơn 60 năm lịch sử của đại hội, chủ đề “Nhân dân” được nhắc tới áp đảo về cả tần xuất lẫn nội dung so với các chủ đề về “Đất nước” và “Đảng”.

Trong bài phát biểu trước toàn dân sau khi kết thúc của Đại hội, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh nhiệm vụ cao cả nhất của Đảng Cộng sản: “Đảng ta là một Đảng chính trị hết lòng phục vụ nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân đạt được những thành tựu thu hút được sự chú ý của toàn thế giới. Chúng ta có mọi lý do để tự hào. Tuy nhiên, chúng ta tự hào nhưng không tự mãn, và chúng ta sẽ không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng.”

Chất lượng cuộc sống của người dân được đưa lên hàng đầu

Căng thẳng xã hội đã được nhấn mạnh liên tục trong tuần nghị sự với trọng tâm đặt vào chất lượng cuộc sống của người dân và việc giải quyết các nguyên nhân gây căng thẳng xã hội đang ngày càng gia tăng. Một trong những thành quả cụ thể là quy định bất cứ dự án lớn nào cũng buộc phải có đánh giá toàn diện các rủi ro xã hội. Tuyên bố này phản ánh sự hiểu biết và phản hồi ngày càng tăng của Đảng trước những lệch lạc xã hội và những hệ quả về môi trường luôn đi kèm các dự án quy mô lớn.

Rõ ràng Đảng Cộng sản đã nhận thức được những vấn đề cấp thiết mà người dân Trung Quốc đang phải đối mặt. Ông Tập Cận Bình đã liệt kê từng điểm trong bài phát biểu của mình: “giáo dục tốt hơn, công việc ổn định hơn, thu nhập cao hơn, an ninh xã hội đảm bảo hơn, dịch vụ y tế có tiêu chuẩn cao hơn, điều kiện sống tốt hơn, và môi trường sống đẹp hơn”. Điều này đạt được hay không là tùy thuộc vào lớp lãnh đạo mới có giải quyết các vấn đề chung hay chấp nhận đánh đổi sự suy đồi của xã hội trong một giai đoạn phát triển quan trọng. Tuy nhiên, các nhà phân tích chỉ ra rằng với tình hình 5 thành viên của Ban thường vụ Bộ Chính trị sắp nghỉ hưu trong 5 năm tới, ông Tập Cận Bình có thể sẽ tập trung phần lớn nguồn lực chính trị của mình cho việc sắp xếp bố trí người kế nhiệm hơn là lo cải cách.

Xiết chặt kỷ cương Đảng

Vấn đề tham nhũng là trọng tâm trong bản báo cáo của cựu Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào. Ông khẳng định tham nhũng đã “đe dọa sự ổn định và nền tảng của Đảng Cộng sản và của đất nước”. Trong suốt tuần nghị sự, chủ đề tham nhũng đã liên tục được nêu bật, và còn được nhắc tới thông qua việc áp dụng các quy định nghiêm khắc hơn về nhân sự Đảng.

Đây là một vấn đề cấp thiết đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi hàng loạt các vụ bê bối về tham nhũng ở cả cấp cao nhất đã làm xói mòn quyền lực của Đảng. Việc ông Tập Cận Bình thậm chí còn đề cập đến tham nhũng một cách thẳng thắn hơn ông Hồ Cẩm Đào, khi ông nêu rõ các nhiệm vụ cần giải quyết bao gồm “các vấn đề về tham nhũng và nhận hối lộ của một số Đảng viên và cán bộ”, gửi đi thông điệp rằng ông Bình dự định điều chỉnh đường lối và xiết chặt hơn nữa kỷ cương của Đảng.

Một tín hiệu nữa về tăng cường chống tham nhũng là việc ông Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan), một người rất có ảnh hưởng, được mệnh danh là “lính cứu hỏa” của Đảng Cộng sản, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng. Ông Vương trước đây từng được cân nhắc làm ứng cử viên cho vị trí thứ hai hoặc thứ ba trong Đảng, nơi ông có thể tận dụng được thế mạnh của mình trong lĩnh vực tài chính và đầu tư. Quyết định bổ nhiệm gây ngạc nhiên của ông Vương có thể báo hiệu cam kết cải thiện hình ảnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc chống tham nhũng và lạm dụng quyền lực.

Quyền lực lãnh đạo đã sang trang?

Sự xuất hiện đột ngột, liên tục, và nổi bật của ông Giang Trạch Dân trong tuần nghị sư đã thu hút sự chú ý của dư luận và hướng sự tập trung vào vai trò mà các “chính khách Trung Quốc kỳ cựu” nắm giữ sau khi nghỉ hưu. Ông Giang Trạch Dân phát biểu ngay sau ông Hồ Cẩm Đào tại Lễ khai mạc Kỳ họp và ông được nhắc đến liên tục trong các báo cáo của Đảng trong cả tuần. Rất nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các nhà phân tích coi sự trở lại của ông Giang Trạch Dân là một bước lùi đối với cá nhân và đội ngũ của ông Hồ Cẩm Đào.

Tuy điều này chưa hẳn thể hiện định hướng tương lai nhưng cũng cho thấy một sự đoạn tuyệt đối với quá khứ. Các bài báo trong tuần nêu bật sự chuyển giao quyền lực và nghỉ hưu của ông Hồ Cẩm Đào và ông Giang Trạch Dân. Ông Hồ Cẩm Đào đã kết thúc tuần làm việc khi rút lui khỏi vai trò Tổng Bí thư và Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chuyển lại các vị trí này cho ông Tập Cận Bình.

Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy sự ra đi nhẹ nhàng của ông Hồ Cẩm Đào đồng nghĩa với một lệnh cấm mang tính hệ thống đối với sự can thiệp chính trị của các nhà lãnh đạo đã nghỉ hưu. Điều này nhằm tránh lặp lại tình huống trước đây khi ông Giang Trạch Dân vẫn nắm giữ quyền lực trong 2 năm sau đó, một cách trực tiếp khi duy trì vị trí Chủ tịch Quân ủy Trung ương, và gián tiếp qua các chỉ thị giúp ông tiếp cận tất cả các tài liệu chính trị quan trọng.

Rời bỏ sự nghiệp chính trị, ông Hồ Cẩm Đào cũng như ông Giang Trạch Dân, chấp nhận giảm thiểu vai trò của các chính khách đã nghỉ hưu, củng cố thể chế của Đảng Cộng sản, và thiết lập nên một tiền lệ mới cho tương lai.

Kết luận

Danh sách bổ nhiệm lãnh đạo mới của Trung Quốc đang định hình, và có cơ sở để tin tưởng vào khả năng Ban lãnh đạo mới sẽ tiếp nối thành công của Trung Quốc suốt 30 năm qua.

Với việc cắt giảm số lượng thành viên của Ban thường vụ từ 9 xuống 7 thành viên, Bộ Chính trị đã rút ngắn con đường đi đến đồng thuận và một lần nữa nhấn mạnh yếu tố quyết đoán trong lãnh đạo, nhằm cải thiện việc áp dụng các chính sách quản lý nhà nước và nhanh chóng đưa ra các điều chỉnh cần thiết cho các vấn đề kinh tế chính trị hiện tại.

Thêm vào đó, 5 trong số 7 thành viên của Ban thường vụ có kinh nghiệm sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế hoặc tài chính, trong khi các lãnh đạo trước đây đều xuất thân từ lĩnh vực kỹ thuật. Quá tập trung sự chú ý vào công tác cải cách chính trị, nhiều nhà quan sát Trung Quốc đã quên mất rằng nền tảng cho sự thần kỳ kinh tế của Trung Quốc được xây dựng bởi những người như Tập Cận Bình, Trương Cao Lệ (Zhang Gaoli) và Du Chính Thanh (Yu Zhengsheng) nhờ thành quả phát triển địa phương, bởi Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan) về tài chính trung ương, và bởi Trương Đức Giang (Zhang Dejiang) về công nghiệp và giao thông.

Cuối cùng, lời nói và hành động của Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã thể hiện rõ sự tự hào và tin tưởng vào thành công hiện tại cũng như tương lai của Trung Quốc:

“Sức mạnh của chúng ta bắt nguồn từ nhân dân và tập thể. Chúng ta hiểu một cách sâu sắc rằng khả năng của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng chừng nào chúng ta còn thống nhất, thì không khó khăn nào không thể vượt qua. Thời gian làm việc của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng không có giới hạn nào cho việc toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.”

Danh sách 25 lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc theo cấp bậc và dự kiến vị trí bổ nhiệm

Thường vụ Bộ Chính trị:

Ông Tập Cận Bình (Xi Jinping):                         Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch  nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Ông Lý Khắc Cường (Li Keqiang):                   Thủ tướng

Ông Trương Đức Giang (Zhang Dejiang):      Chủ tịch Quốc hội

Ông Vũ Chính Sinh (Yu Zhengsheng):          Chủ tịch Ủy ban Tham vấn Chính trị

Ông Lưu Vân Sơn (Liu Yunshan):                     (cập nhật sau)

Ông Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan):                 Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng

Ông Trương Cao Lệ (Zhang Gaoli):                  Phó Thủ tướng phụ trách Kinh tế

Bộ Chính trị (không bao gồm Ban Thường vụ)

Ông Quách Kim Long (Guo Jinlong):    Bí thư Thành ủy Bắc Kinh (Beijing)

Ông Hàn Chính (Han Zheng):                   Bí thư Thành ủy Thượng Hải (Shanghai)

Bà Tôn Xuân Lan (Sun Chunlan):            Bí thư Thành ủy Thiên Tân (Tianjin)

Ông Tôn Chánh Tài (Sun Zhengcai):        Bí thư Thành ủy Trùng Khánh (Chongqing)

Ông Hồ Xuân Hoa (Hu Chunhua):            Bí thư  Tỉnhủy Quảng Đông (Guangdong)

Ông Triệu Lạc Tế (Zhao Leji):              Bí thư Tỉnh ủy Tân Cương (Xinjiang)

Ông Trương Xuân Hiền (Zhang Chunxian): Trưởng ban Tổ chức Trung Ương

Ông Lưu Kỳ Bảo (Liu Qibao):              Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

Bà Lưu Diên Đông (Liu Yandong):                    Phó Thủ tướng

Ông Uông Dương (Wang Yang):                       Phó Thủ tướng

Ông Mã Khải (Ma Kai):                                   Ủy viên Quốc vụ, Tổng Thư ký Quốc vụ viện, Giám đốc Học viện Hành chính Trung Quốc

Ông Mạnh Kiến Trụ (Meng JianZhu):    Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương

Ông Lý Nguyên Triều (Li Yuanchao):    Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ông Lý Kiến Quốc (Li Jianguo):                       Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ông Phạm Trường Long (Fan Changlong):        Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương

Ông Hứa Kỳ Lượng (Xu Qiliang):                     Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương

Ông Vương Hồ Ninh (Wang Huning):   Ủy viên Quốc vụ viện

Ông Lệ Chiến Thư (Li Zhanshu):                       Chánh Văn phòng Trung ương Đảng

News: Ogilvy 2012 Sabre winner

Oct 31

Time to celebrate our Ogilvy Public Relations achievement at SABRE awards, the Oscar of Public Relations industry, collected 10 honours and lead all other PR agencies in Asia Pacific rim.

Ogilvy Public Relations giành 5 giải thưởng danh dự  SABRE 2012, tương đương với giải Oscars của Hollywood, vượt qua tất cả các agency PR khác trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Featuring the awards listing was our Social@Ogilvy  campaign for Huggies Hong Kong Huggies Step Zero project, a follow up on our previous award winning and first Asia Facebook case study before ulitizing video, youtube, facebook, and other moms community, a great example of brand inspired consumer generated content.

Trong danh sách nhận giải có giải thưởng cho dự án Huggies Step Zero,  chiến dịch tiếp theo một chiến dịch trước của thương hiệu Huggies (được Facebook Châu Á trích dẫn và lấy làm một trong những bài học kinh nghiệm). Tận dụng các kênh truyền thông mạng xã hội một cách hiệu quả và đầy sáng tạo: youtube, facebook, và các diễn đàn của các bà mẹ và đạt được nhiều kết quả cao, một ví dụ hay về chiến lược truyền cảm hứng cho người tiêu dùng từ thông điệp của thương hiệu, tạo cơ hội cho người tiêu dùng tự tạo nội dung, phát tán và trở thành ‘đại diện’ cho thương hiệu.

Other awards come from different part of our PR offices, Australia, Taiwan where social media marketing communication is at the heart of each campaign, is empowered with other communication channel delivering a full effective programs to clients.

Các chương trình và campaign khác được giải rải từ nước Úc cùng với thương hiệu IBM, đến Ogilvy PR Đài Loan hợp tác cùng Bộ Nông Nghiệp Đài Loan thực hiện nghiên cứu và chiến dịch tăng tiêu thụ gạo và giúp sự tăng trưởng của GDP. Đại đa số các chiến dịch đều sử dụng kênh truyền thông mạng xã hội làm trọng tâm, phối hợp cùng những kênh truyền thông truyền thống vá digital khác một cách hiệu quả. Chẳng hạn như chiến dịch #Loving the Moment của Shangri-la, chương trình của nhãn hàng Kleenex tận dụng blogging và mạng xã hội mới đang nổi Pinterest.

Ngoài ra, ông Scott Kronick, lãnh đạo cấp cao của OgilvyPR khu vực Bắc Á cũng nhận được giải SABRE Individual Achievement Award cho công sức, tài năng lãnh đạo nhiều năm và những thành công mà thị trường đạt được, đặc biệt là Trung Quốc.

 

Hội nghị Social Media Matters Conference 2012

Sep 14

7:45 sáng, tại khách sạn Four Season Hotel, Hong Kong, hội nghị Social Media Matters, do bộ phận Social@Ogilvy phối hợp cùng Branded và nhiều khách mời, nhà tài trợ khác cùng tổ chức. Diễn giả tham dự bao gồm đại diện cấp cao của các thương hiệu lớn như  Nestle, IBM, Cisco, Intel, DBank, TNS, các chủ và quản lý cấp cao của những kênh mạng xã hội quốc tế và Trung Quốc: Twitter, Facebook, Google và nhiều đại diện thương hiệu khác tại Hong Kong.

Hội nghị hứa hẹn một ngày rất full-on, sôi động và nhiều thảo luận bổ ích, gây cấn xoanh quanh những chủ đề về ứng dụng, hiệu quả của truyền thông mạng xã hội đối với tổ chức kinh doanh, thương hiệu, nhiều nhãn hàng.

Đây là bảng infographic dịch ra tiếng Việt. Mọi người tham khảo.

Xuyên suốt hội nghị, các chủ đề nổi trội được mọi người quan tâm:

1. Đo lường hiệu quả của truyền thông MXH đối với kết quả kinh doanh của thương hiệu. Đa phần thương hiệu và những chuyên gia tiếp thị có khá nhiều hiều lầm về phương pháp đo lường hiệu quả. Đo lường ROI (Return on investment) đều được tập trung đo ở góc độ campaign, nhưng thương hiệu quên tính hiệu quả lâu dài và đặt xây dựng thương hiệu làm một thước đo chủ đạo.  ChatThreads chia sẻ 3 hiểu lầm mắc phải: đo số lượng qua các hoạt động và sử dụng phương pháp đo lường của tiếp thị truyền thông để áp đặt vào đo lường MXH, loại bỏ đo lường MXH ra khỏi bài tính của mình hoặc đo MXH đơn lẻ, không đo giá trị của MXH.  Kết luận được rằng luôn nên thiết lập và đồng ý về phương pháp đo lường trước khi hoạt động, luôn kèm theo đo lường so với mục tiêu kinh doanh và những hoạt động khác để thấy hiệu quả lâu dài.

2. Mobile không những trở thành phương thức tiếp thị tương lai mà hiện nay, theo nhiều nghiên cứu cho thấy, người tiêu dùng Châu Á và thị trường Châu Á sẽ là nơi tiên phong, hơn hẳn thị trường Châu Âu/Mỹ vốn dĩ phát triển cao. Theo đại diện Google, có hơn 6 tỷ cell phone in use, thị trường Indonesia có số lượng sử dụng mobile khổng lồ và access vào mạng XH từ mobile như các trang facebook, twitter, 9 triệu người trên tổng số access. TNS cũng khẳng định thị trường Châu Á béo bở với 7 triệu Android active mỗi tuần, người sử dụng có hơn 2 điện thoại di động và là một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Nhật Bản là một nước vượt trội lẫn về tầng suất sử dụng đến phương thức sử dụng, sau đó là Hàn Quốc. Mobile đối với các MXH microblog như Twitter càng trở nên hữu dụng và thậm chí ‘đời thường’ . Engagement rate của Twitter range từ 1 – 3% và quảng bá, truyền thông cho thương hiệu qua Twitter được hổ trợ qua: promoted tweets, brands gắn liền promotions với promoted tweets, trending topics, top trends, promoted accounts. 2 ngành sử dụng Twitter hiệu quả nhất đó là movies/entertainment và thể thao, cụ thể như case study của Olympic và ngay cả những tweet sáng tạo trong thiên tai vừa qua của Nhật Bản. Mobile cũng được phát huy qua xu hướng Location Based Services như fourquare và trở thành một phần của kinh doanh điện tử cho các cửa hàng bán lẻ, retail, kết hợp online và offline nhuần nhuyễn.

3. Người nổi tiếng, celebrity và truyền thông MXH. Chủ đề này khá thú vị. Diễn giả chia sẻ thành công cũng nhiều ca sỹ mới nổi, tài năng được phát hiện qua MXH như youtube, hàng triệu, trăm nghìn người xem tạo tiếng vang và gây chú ý đến các record labels. Điển hình là artist G.E.M của Hong Kong. Bí quyết quản lý twitter handle và truyền thông giữa fan và các  nghệ sĩ đó là:  sử dụng trực giác củ mình, trung thực, tính khôi hài, thể hiện những gì mình thật sự yêu quý, trung thực với cá tính và giá trị bản thân của mình. Có một câu nói rất hay ‘we’re in the emotional business and social drive emotion’. Trong lĩnh vực giải trí, ngoài số lượng fans hâm mộ, artists cũng cần sản xuất ra nội dung, có những fans hâm mộ thật (khá nhiều fans hâm mộ giả trên Twitter, ngay cả LadyGaGa, theo như được biết chỉ có 33% là fans thật trên tổng số).

4. MXH quốc tế vs các MXH địa phương. Trung Quốc là một thị trường khổng lồ và đai đa số những MXH là do TQ tạo nên dành riêng cho người TQ, với một số kênh nhỏ lẻ được đầu tư ra nước ngoài như Cyworld. Đọc và tìm hiều thêm những kênh của TQ như Douban, Renren, Sina Weibo, Jiepang, Baidu/Tudou/Yokou trên allthatmatters.com

5. Doanh nghiệp và MXH/truyền thông MXH Social Business. Đại diện IBM, Cisco, Nestle, một số khách hàng của Ogilvy cũng chia sẻ những trường hợp thành công và định hướng phát triển, tầm quan trọng của MXH và truyền thông MXH đối với doanh nghiệp. IBM được sự ủng hộ ngay từ CEO và trở thành ‘mandatory’ cho tập đoàn với đại đa số nhân viên embrace social, sử dụng nguốn nhân lực đặc biệt là bộ phận chăm sóc khách hàng qua mạng XH, tạo sự tin tưởng giữa nhân viên và doanh nghiệp, khách hàng và doanh nghiệp. Những diễn giả khác cho rằng ‘social’ chính là sản phẩm thương hiệu có thể bán ra, phải được đầu tư (nhân lực và tiền). Nhân viên phải được huấn luyện, và được thưởng. Một trong những phương pháp thành công: doanh nghiệp phải có ‘văn hóa’ thích hợp, phải sẳn sàng để tiếp đón sự thay đổi mới, có mục tiêu và đo lường cụ thể. Nestle coi trọng Social Listening và thành lập đôi ngũ lắng nghe chuyên biệt (với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Ogilvy) dùng Listening với nhiều mục đích.  Các diễn giả thú nhận rằng đại đa số creative agency đang bị đi sau sự phát triển của MXH, thông thường khi cung cấp giải pháp cho khách hàng thì luôn đặt truyền thông MXH là cuối cùng hoặc thậm chí không có, đặc biệt trong giai đoạn lên kế hoạch và lập chiến lược. Như vậy thì nên ‘fire’ agency!

Hội nghị kết lại với các đại diện MXH khác phát biểu như Facebook , LinkedIn, và các MXH của Trung Quốc. Xem thêm hình ảnh tại trang web chính thức.

 

 

Set status/social/tweet for your phone

Aug 04

Screen Shot 2012-08-04 at 4.39.24 PM

Viettel has just launched a new service iSign which allows users to set their phone a signature. You can try the service here www.isign.com.vn for free in its beta period.

Personally, I think this is a very potential service due to its social connection.

Functions:

  • You can set up your iSign in any languages but try not to use bad words. You have 140 characters to write anything you want
  • When you send SMS to your friend iSign will be included in the message.
  • When your friend call you or you call them, your iSign will be display on their phones. This function is really cool, go and try this if you are using Viettel.
  • Connecting with Social Platforms: iSign allow you to connect with Facebook and Twitter so that whenever you set your status on Facebook or Tweet your iSign will be changed the same.

iSign is open API and willing to connect with any social platforms so we will have more than Facebook and Twitter soon.

However, Mobifone and Vinaphone are also big players and this iSign thing will be much more fun if we can have all connected.  Let’s wait for Mobifone and Vinaphone to jump in this in future.

Facebook Ads và hiệu quả to lớn

Jun 28

Trong suốt quá trình thực hiện những chiến dịch về mạng xã hội, nhóm social@Ogilvy luôn luôn nhận được hai câu hỏi lớn  với nhiều băn khoăn trăn trở của khách hàng về cách thực hiện và triển khai cộng động của họ trên Facebook. Hai câu hỏi lớn ấy là:

1) Làm sao tạo được lượng fan lớn?

2) Làm sao để nội dung hấp dẫn và nhiều người like + comment?

Ngày trước, để tạo cộng động trên facebook cực kỳ dễ, dễ đến mức nhà nhà người người ai cũng có thể làm được – chi một lượng ngân sách nhỏ xíu để “mua” số lượng fans cho trang Facebook của nhãn hàng, và tạo những nội dung shock shock hoặc vui vui để người xem vô like + comment vui vui.

Tuy nhiên với sự chuyển dời từ Facebook Page thường sangFacebook Page Timeline, cuộc chơi đã chuyển theo một hướng khác. Lượng fan “mua” sẽ không tương tác với trang, dẫn đến tình trạng 1 trang fan đông rất đông nhưng tương tác thì cực thấp, chưa kể từ từ số fan sẽ giảm đột ngột do họ “unlike” trang của mình (vì họ có thích bao giờ đâu).

Vậy làm cách nào để tạo lượng fan + phát tán nội dung của trang mình ra khắp cộng đồng Facebook? Câu trả lời nằm ở
Facebook Ads

1. Facebook ads là gì?

Facebook ads là hình thức quảng cáo trên Facebook (từ trang cá nhân đến trang doanh nghiệp), có thể dùng để quảng cáo cho các trang Facebook doanh nghiệp cho đến các đường link website ngoài (external link). Hiện tại Facebook ads được chia làm hai dạng chính mà chúng ta sẽ đi chi tiết trong nội dung hôm nay:

+++A) Standard Facebook Ads

+++B) Stories Ads

Đây là một loại ads đặc biệt mà hiện tại rất ít người chú ý đến công dụng của nó. Nếu sử dụng đúng lúc, đây sẽ là một công cụ với sức mạnh to lớn có thể giúp bạn không chỉ thu hút fans, mà còn tăng lượng tương tác trên trang của mình.

 

Vì sao ta lại sử dụng Stories Ads – Câu trả lời bắt đầu từ vấn đề của Facebook hiện đã giới hạn lại số lượng xuất hiện nội dung trang thương hiệu trên News feed của người xem. Tức là ngay bây giờ, mỗi khi trang thương hiệu của bạn post một nội dung, thì chỉ 10% fans của bạn thấy nội dung ấy trên new feed mà thôi, 90% còn lại sẽ không hề nhận được bất kì thông tin gì – Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc truyền thông và phát tán thông điệp của từng trang thương mại. Nếu bạn có 30.00 fans, mỗi lần post, chỉ có 3000 người thấy – Một sự tổn thất rất lớn cho thông điệp của bạn đúng không?

Với lí do ấy, Stories ads trở thành vị cứu tính “bất đắc dĩ” (chúng tôi thì vẫn cho rằng Facebook rất biết cách thương mại cho dịch vụ ads của mình) khi bạn sẽ biến những nội dung mình post thành 1 quảng cáo và người xem sẽ thấy được những thông tin ấy – Điều này rất có lợi:

  • Thứ nhất, nay nội dung của bạn đã xuất hiện ra khỏi page, chạm đến được nhiều người xem hơn
  • Thứ nhì, nếu nội dung bạn cực kỳ thú vị, hãy trông chờ lượng like, comment cho nội dung mình tăng vọt chỉ trong vòng 2-3 giờ
  • Thứ ba, nếu nội dung của bạn có chứa hình ảnh, video, poll, question, thì nó sẽ xuất hiện trên stories ads luôn. Điều này tăng tính tương tác rất cao cho nội dung của bạn, người xem cũng sẽ thích thú hơn vì chỉ cần click là đã có thể xem ngay video hoặc vote luôn.

Một điểm mạnh của stories ads nữa là khi nội dung quản cáo của bạn đạt được một lượng tương tác nhất định và nhiều người click & like/comment lên thì Facebook sẽ thưởng cho nội dung của bạn xuất hiện trở lại trên new feed của fan. Hãy tưởng tượng nếu bạn post một dung ngày hôm trước, và hôm sau nó xuất hiện thêm 1 lần nữa lên new feed của fan – Cơ hội phủ của thông tin của bạn sẽ rất lớn

2. Sử dụng Facebook ads sao cho hiệu quả?

Rất đơn giản để sử dụng Facebook ads vì giá cost per click khá cạnh tranh, bạn có thể linh động điều chỉnh để đạt được số lần xuất hiện& lượt click một cách hiệu quả nhất, và thời gian book ads rất nhanh, chỉ với 1 cú nhấp, quảng cáo của bạn có thể sẽ xuất hiện ngay lập tức.

Chi phí của Standard Facebook Ads & Stories ads là tương đương nhau nên cách sử dụng tốt nhất là chạy song song cả hai loại ads để đảm bảo khả năng vừa thu hút fan mới, vừa truyền tải thông điệp của mình đến nhiều nơi hơn. Nhóm social@Ogilvy luôn khuyến khích sử dụng như sau:

 

 

 

Thiet ke web gia re

Dich vu SEO


choi game, chơi game hành động, chơi game thể thao, chơi game thời trang, game đánh nhau, choi game dua xe, choi game, game bắn súng, game bóng đá, game nấu ăn, mẹo vặt, meo vat lam dep, sua binh nong lanh, xem phim hd, xem phim, truyen ma, doc truyen ma, truyện ma, doc truyen, truyen, sửa điều hòa, sửa máy giặt, sửa tivi lcd, sua tủ lạnh, sua dieu hoa, sua may giat, sua tivi lcd, sua tivi lcd, y8