DJ,Nhạc Sàn ,Nhac San

sua nha - sua nha ha noi

du lich cu lao cham


du lich nha trang

Thanh Son Nguyen

Photo of Thanh Son Nguyen

General Director T&AOgilvy

Posts: 8

Nguyen Thanh Son is an entrepreneur and well-known communications expert. He founded T&A Communications in November 1996 and grew the company to 60 communications experts agency, representing about 30 interntional brands. In 2008, WPP, a worldwide brand communications group acquired a part of T&A and turned it into a joint venture called T&A Ogilvy

At T&A, his primary roles are overall development planning, alliance and partnership, new communications practices development. As Chief Knowledge Officer, he provides training program for both internal and external audiences.

Prior to founding T&A Communications, Son served as a Desk Officer for the Vietnam Chamber of Commerce and Industry (VCCI), where he supervised trade promotion in ASEAN countries and in the US.

Son began his career as a desk editor at the Vietnam News Agency (VNA) in the World News Section. A native of Hanoi, he graduated from the Moscow Institute of International Relations with a master in International Journalism in 1994

Son is a USIS Business Fellow (Class of 2002) and a Rockefeller Fellow (Class 2005). In 2006, he received the prestigious Asia Leadership Fellow from Japanese Government and Japan Foundation ( he is the youngest fellow in ALFP’s history). He is widely known as a literary critic and an expert in cross-cultural integration. His first book, My Literary Criticism, was an instant success and a bestseller. He contributes to a number of publications and serves as editor for two online magazines. He also lectures on communications at the Hanoi National University in Vietnam.

Son is an investor and BOD member of Forinco Invest, an investment company that build and operates cancer treatment facilities in Vietnam, BioZ Vietnam, a biotech company.

Son lives in HCMC with his wife, actress Hong Anh
Specialties.

Reminder of valuable training

Nov 27

Valuable Facebook Marcom Training Available Now

As per previous communications, we are in partnership with Facebook and have access to a brand new training resource launched yesterday. Facebook StudioEdge is a series of short training modules designed for marketers to get deeper and deeper expertise using the platform for their marcom needs. This resource will grow over time and is a great companion to the Social@Ogilvy Belt Training System. We will be integrating the Facebook StudioEdge curriculum in future iterations of our belt levels. You can access the training now.

What Facebook Studio Edge Is

Studio Edge lives on the Facebook Studio website. It is lightweight, easy-to-use and modular. Each course should take only about 15 minutes to complete

Studio Edge was designed with agencies in mind, and its material is relevant to a wide range of agency audiences and disciplines.
Courses are grouped under three main product categories: Pages, Ads, and Technology. As you complete courses in any given category, you’ll move up in status from Novice to Intermediate, Advanced, and Expert. Talk to your manager, or refer to the attached guide, to prioritize which categories are the most relevant to your position.
Studio Edge will be updated continually as new products develop. As updates and new courses become available, you’ll be notified through the Facebook Studio site. You’ll want to keep up to speed on new courses to maintain the status you’ve earned.

Hầm dự trữ hay Thảo nguyên

Nov 26

Đây là phần đầu của bài viết có tên đầy đủ là Hầm dự trữ  hay thảo nguyên- “Sự thay đổi mối quan hệ giữa tiếp thị và quan hệ công chúng” (ngoài ra còn có tên là “cái chết của quan hệ báo chí”) do ông Miles Young, Tổng giám đốc của tập đoàn Ogilvy&Mather viết cho hội nghị những nhà lãnh đạo của tập đoàn này vào tháng 8 năm 2011 ở Praha

Quả thật, tôi là một người ngoại đạo.  Tôi không phải là người làm quan hệ công chúng.  Tôi không được đào tạo chính quy về lĩnh vực quan hệ công chúng. Tôi là người làm quảng cáo khi mới gia nhập Ogilvy & Mather và sau tám năm làm việc trong lĩnh vực quảng cáo, tôi chuyển sang lĩnh vực kinh doanh tiếp thị thương hiệu. Trong khoảng thời gian đó tôi thực sự quan tâm và nhận thức ngày càng sâu sắc niềm đam mê làm thế nào có thể kết nối và phối hợp làm việc với các chuyên viên của các chuyên ngành khác nhau để thực hiện tốt các chương trình. Một trong những chương trình đầu tiên mà OPR thực hiện là chiến dịch cho các công ty bảo hiểm của Anh hưởng ứng những thay đổi trong môi trường pháp lý của nước Anh. Bây giờ nghe có vẻ như đơn giản, nhưng trở lại vào những năm 1980, nó thực sự mang tính cách mạng. Sau đó, khi chuyển đến châu Á, được bổ nhiệm vào một số vị trí quản lý và cuối cùng trở thành nhà lãnh đạo cao nhất, tôi đã đảm nhiệm việc tổ chức và điều hành OPR cùng với các bộ phận kinh doanh khác của chúng tôi. Đặc biệt tôi đã và đang đảm nhiệm hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực quan hệ công chúng tại Trung Quốc.

Những gì bạn đang được nghe mô tả một cách quanh co chính là một mô hình kinh doanh mà ở đó có sự góp mặt của các loại hình truyền thông khác nhau: quan hệ công chúng, quảng cáo, tiếp thị và kích hoạt thương hiệu.

Chúng tôi gọi đó là truyền thông 360°, trong đó mỗi loại hình truyền thông tuy đứng độc lập với những chiến lược và mục tiêu riêng nhưng lại phục vụ một mục đích chung là giải quyết toàn diện các nhu cầu của khách hàng, không chỉ bó hẹp ở góc nhìn 45° hay 90°. Các yếu tố văn hóa và kênh truyền thông số được kết hợp dựa trên nền tảng cốt lõi là hoạt động hàng ngày của con người, tạo nên sự kết hợp mang tính chiến lược chứ không chỉ dừng lại ở mức phương thức thực hiện. 

Vào một số thời điểm ở giữa thế kỷ trước, quan hệ công chúng đã tồn tại trong bối cảnh như một “hầm dự trữ”, mặc dù khi mới hình thành nó không phải như vây. Các hầm dự trữ là nơi lương thực sau khi thu hoạch được cất giữ, rồi đóng chặt cửa cùng với những bức tường ảm đạm, tượng trưng cho sự cô lập với thế giới xung quanh. Trong khi những người sáng lập ra quan hệ công chúng hiện đại tại Hoa Kỳ, có đầu óc hiểu biêt sâu rộng, như ông Ledbetter Lee, có xu hướng  xóa bỏ khái niệm hầm dự trữ, báo hiệu những sự khác biệt hơn so với ngành quảng cáo. Các kỹ năng và hoạt động của họ là tiền đề cho những gì mà chúng ta gọi là quan hệ báo chí ngày hôm nay.  Nó đã từng là một mô hình được ứng dụng tốt trong ngành, nhưng theo tôi nhận thấy giờ nó đã chết, chết như động vật tuyệt chủng, chết như loài khủng long. Ba sức mạnh đã giết chết nó đó là xã hội hóa, phân khúc, và toàn cầu hóa. Sự nhận thức hoàn hảo đúng lúc của họ đã đưa đến những thành quả tuyệt vời hiện tại.  Sẽ còn tuyệt vời hơn nếu chúng ta được chuẩn bị để sẵn sàng mở các hầm dự trữ của mình.

 Trước tiên, tôi xin trình bầy về xã hội hóa. Tôi không cần phải chứng minh với các bạn bằng chứng về sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông xã hội. Các con số tuyệt đối đã chỉ cho mọi người thấy. Nếu truy cập vào trang Facebook, bạn sẽ thấy số lượng thành viên của Facebook tương đương với dân số của bao nhiêu quốc gia trên thế giới. Không gì ngạc nhiên khi 25% của các kết quả tìm kiếm cho 20 thương hiệu hàng đầu thế giới có kết nối đến nội dung do người dùng tạo ra. Truyền thông xã hội là công cụ tuyệt vời cho bất kỳ nhà tiếp thị thông thái nào: ghi nhận những con số và đưa ra các con số.

Kết quả là chúng ta thấy một hiện tượng mới xuất hiện – “những người lạ có kinh nghiệm.” Cụm từ này có vẻ rất kỳ cục vào thời điểm cách đây 5 năm. Ngày càng nhiều kênh tư vấn truyền thống bị suy giảm lòng tin. Hiện nay tại Mỹ, khoảng 34 đến 50% dân số tin tưởng “những người lạ có kinh nghiệm,” hoặc gọi cách khác là những lời khuyên đến từ những người tương tự mình trên mạng. Trung Quốc có cùng tỉ lệ % đó, và tại châu Âu cũng vậy.

 Tuy nhiên, sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông xã hội có ảnh hưởng sâu sắc hơn đối với những tập đoàn đã xây dựng nên những thương hiệu đó. Nói một cách đơn giản, truyền thông xã hội đã tác động đến mọi ngóc ngách của đời sống. Luồng gió của sự minh bạch đã thổi xuyên thấu mọi hành lang công ty với sức mạnh không thể nào chống cự lại. Tất nhiên, gần đây chúng ta đã thấy một số ví dụ của những nỗ lực kháng cự. Khi Toyota lần đầu tiên nhận được những bản báo cáo về các vụ tai nạn xảy ra ở Mỹ và những nhận định đáng tin cậy rằng chính lỗi bàn đạp phanh là nguyên nhân gây nên các vụ tai nạn, họ đã chậm đưa ra những phản ứng đầu tiên. Khi sự thật được sáng tỏ, công ty này dường như bị lên án đến mức phải bị loại bỏ. Bây giờ tôi không tin rằng đã có một âm mưu hãm hại nào: đúng hơn là, văn hóa và thể thức của một tổ chức có xung đột từng không bao giờ coi sự minh bạch như là một giá trị; và hàng trăm quyết định nhỏ được đưa ra cùng góp phần tạo nên bức tranh hành vi tổng thể của tổ chức đó. Họ đã học được bài học một cách đắt giá

Tin tốt là khi sự cố xảy ra, minh bạch có thể hóa giải nó. Minh bạch có sức mạnh cứu vãn. Ví dụ, Toyota sau một thời gian ngắn đã có thể tác động được những nhóm người ủng hộ trên Facebook ở Mỹ – những người cảm thấy sự chỉ trích bôi nhọ đã đi quá xa.

Khoảng 40 ngày sau vụ tràn dầu của BP ở Vịnh Mehico và khi cuộc khủng hoảng truyền thông chưa từng có trong lịch sử của hãng này đã nổ ra, nhóm Digital Influence của chúng tôi bắt đầu tham gia giải quyết. Chúng tôi có một đội trực 24/7 tại trung tâm chỉ huy ở Houston. Vai trò của họ là làm cho những cam kết BP đưa ra được minh bạch. Từ chỗ không sử dụng bất kỳ một phương tiện truyền thông xã hội nào, các trang YouTube, Twitter và Facebook nhanh chóng được tạo ra và thu hút một lượng lớn người theo dõi. Sự minh bạch được truyền tải một cách rõ ràng hàng ngày thông qua chiến dịch đồ họa thông tin và những bức ảnh chụp được đưa ra trên Flickr- hãy để thực tế tự nói lên tất cả

Có một khoảnh khắc “vui sướng” trong quá trình kiểm tra áp lực của vỏ giếng khoan. CNN tường thuật trực tiếp tình hình và nhầm lẫn khi nói rằng các đồng hồ đo áp suất trên màn hình là cái cần phải được theo dõi để đánh giá sự thành công hay thất bại của hoạt động này. Ngay lập tức, chúng tôi tập hợp các chuyên gia công nghệ của BP, soạn thảo những lời lẽ để làm rõ vấn đề và sau đó lên tiếng. Lời hiệu đính đạt được mục đích, một học giả lên sóng đài truyền hình và khẳng định rằng hiệu đính của chúng tôi là đúng. Mặc dù chỉ mới trong giai đoạn đầu của chiến dịch nhưng có dấu hiệu cho thấy rằng phương pháp tiếp cận minh bạch đã bắt đầu giúp đảo chiều dư luận tại Mỹ.

Yêu cầu đầu tiên của minh bạch là khả năng lắng nghe. Bạn thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào nó.

Bạn cần phải hiểu những gì mọi người đang nói. “Nghe bình luận” giúp bạn tập hợp được một loạt những gợi ý có thể thực hiện. Tuy nhiên, hiểu cách mọi người tìm kiếm thông tin cũng quan trọng như điều họ nói.

Chúng ta hãy coi những thông tin tìm kiếm như là khoảng không mới trên chiếc kệ. Dựa vào bất kỳ chuỗi từ khóa nào chúng ta cũng đều có thể biết “kệ tìm kiếm” được tạo nên như thế nào; nói cách khác, loại hình truyền thông nào có kết quả tìm kiếm giảm và giảm bao nhiêu % – trên các trang web mua sắm, video, hình ảnh, bách khoa toàn thư, tin tức, blog, tạp chí hay sách? Chúng ta cũng có thể hiểu những nội dung thành phần trong lượng tìm kiếm tại bất kỳ thể loại nào.

Sự thấu hiểu là điều kiện thiết yếu của bất kỳ chiến lược truyền thông xã hội nào. Hiện tại, nguyên tắc Pareto cũng áp dụng cho các phương tiện truyền thông xã hội. Nhờ nó, tôi đã phát triển công việc tiếp thị trực tiếp của mình với 20% số lượng người sử dụng mang lại 80% giá trị. Nhiệm vụ của chúng ta là gây ảnh hưởng đến những người có tầm ảnh hưởng nhất. Ví dụ, “một sơ đồ khái quát người ảnh hưởng” cho lĩnh vực chăm sóc da tại Mỹ có thể hiển thị sinh động tầm ảnh hưởng của các blogger thời trang, các trang web thể dục thể hình, các trang web về du lịch và nấu ăn…trong đó các blogger sắc đẹp chỉ là một phần. Hiện tại chúng chiếm 80%.

Sau đó, chúng ta cũng phải tìm kiếm sức ảnh hưởng tương xứng. Đây là hoạt động ở cấp cơ sở xã hội. Nó tạo ra một hình thức nghệ thuật hoàn toàn mới liên quan tới “Quản lý giao tiếp”. Sai phạm lớn nhất chính là hình thức “1 lần” – những trang Facebook hay những đoạn cập nhật trên Twitter.   Điều quan trọng là phải quản lý giao tiếp theo lịch. Thông qua giao tiếp, các nhà quản lý có thể đánh giá được cơ sở của nó. Bối cảnh giao tiếp phải thúc đẩy được mối quan hệ hàng ngày, mang lại những kinh nghiệm đáng chú ý và phải được duy trì qua thời gian.

Bạn có thể quan sát tất cả những điều này trong công việc hiện nay chúng tôi làm cho Ford. Gần đây, chúng tôi đã đưa ra một chiến lược truyền thông kỹ thuật số ở cấp doanh nghiệp nhằm chứng tỏ rằng “Ford là sự khác biệt”. Và chiến lược này đã giúp Ford tăng thị phần khi thế giới vẫn phải đối mặt với những tác động từ cuộc khủng hoảng ngành công nghiệp ô tô.

Khi giám đốc điều hành Alan Mulally tuyên bố ra mắt chiếc xe điện đầu tiên tại triển lãm điện tử tiêu dùng (CES) 2011, công ty Ford Motor biết sẽ không khó khăn để đưa tin. Tuy nhiên, các công ty ô tô khác ngày càng sử dụng CES để ra các thông cáo lớn nên Ford biết công ty cần phải đổi mới cách thức. Sau khi sử dụng Facebook thông báo về việc ra mắt, chúng tôi đã tổ chức chương trình truyền hình trực tuyến đổi mới công nghệ 24 giờ trên trang Facebook của Ford để thu hồi các ý kiến quan trọng. Các blogger từ khắp nơi trên thế giới đã tham gia cùng các giám đốc điều hành của Ford. Kết quả là, những phản hồi truyền thông xã hội cho Ford vượt quá 63% tương quan truyền thông của nhiều hãng ô tô lớn đang đưa tin tại CES. Khán giả tham gia chương trình trực tuyến cũng theo dõi với lượng thời gian gấp đôi, và Ford đã đạt được gần 50 triệu phản hồi ấn tượng truyền thông xã hội (CMI) bằng những nỗ lực truyền thông kỹ thuật số.

Tháng 2 năm 2011, Ford đã tổ chức họp mặt gần 20 nhân vật gồm nhà báo và các blogger có tầm ảnh hưởng lớn với truyền thông xã hội tại chương trình “Lái thử xe Focus Toàn cầu” ở INTA – Tây Ban Nha. Các blogger đã được mời tham gia vào chương trình làm video cá nhân,  trải nghiệm chiếc Ford Focus 2012 mới, và sau đó được khuyến khích làm tư liệu về các chuyến đi. Sau sự kiện này, các blogs đạt 5,3 triệu lượt khách, các videos do các blogger tạo ra có hơn 500.000 lượt xem và chương trình “Lái Thử Toàn Cầu” có hơn 12,3 triệu người theo dõi. Một điểm quan trọng khác: thế giới PR và bán hàng xã hội đang gắn kết với nhau. Chúng không thể hoạt động như các hầm chứa riêng rẽ

Nhưng ý tôi ở đây là: tất cả chúng ta HIỆN NAY đều có những cơ hội như vậy. Những cơ hội đó thúc đẩy chúng ta tạo ra một cộng đồng đích thực. Để thực hiện cái mà đã rất lâu chúng ta nói nhưng chưa làm được

Tôi nghĩ điều này là hiển nhiên nếu xã hội hóa đem lại sự minh bạch. Khi đó cộng đồng là “tiền lãi” của sự minh bạch đó

Tuy nhiên, một cộng đồng không thể được xây dựng một cách bừa bãi. Nó phải được xây dựng dựa trên chiến lược truyền thông kỹ thuật số. Thực tế cho thấy chúng ta phải”nhanh nhưng không vội vàng.” Việc thu thập các sáng kiến lỗi thời, các trang web bị lãng quên và các tài khoản vô chủ chỉ khiến cho thế giới mạng xã hội hỗn loạn hơn-giống như những mảnh vỡ của vệ tinh ngoài vũ trụ. Tôi muốn nói với các bạn rằng xã hội hóa là điều cốt lõi đối với một doanh nghiệp. Nếu bạn chấp nhận nó, tôi chắc chắn bạn sẽ thành công. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp. Ví dụ, hãy tưởng tượng đến một tổ chức có nhiều kênh phức tạp hoặc có thể có các đối tác được cấp phép. Cần phải triệt để áp dụng một cơ chế quản trị để quản lý những cuộc đối thoại chứ không phải là chỉ phớt lờ hay giả vờ quản lý chúng.  Ví dụ, nếu một khách hàng tìm cách liên hệ với nhà sản xuất nước giải khát thông qua người sản xuất vỏ chai cho thương hiệu, ai sẽ là người quản lý cuộc đối thoại và sẽ quản lý như thế nào? Chúng ta đang giải quyết vấn đề làm thế nào khái niệm “công chúng” trong quan hệ công chúng được luật hóa và được hỗ trợ. Trong thế giới mới, vai trò của quan hệ công chúng gắn liền với những vấn đề như vậy. Vai trò của nó là để giúp xã hội hóa doanh nghiệp.

Tương lai của truyền thông

Nov 23

Kunda và mình trên diễn đàn

Kunda Dixit là một nhà báo nổi tiếng của Nepal và là chủ nhà xuất bản Himalmedia, nhà xuất bản có uy tín rất cao về tính chuyên nghiệp và lòng tự trọng  ở Nepal. Nhà xuất bản này đã có vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh đòi tự do báo chí và dân chủ ở Nepal trong những năm gần đây. Sau khi nhận bằng cao học về báo chí tại trường tổng hợp Columbia, ông trở thành phóng viên thường trú của BBC World Services tại trụ sở Liên hợp quốc, sau đó làm việc cho  hãng thông tấn Inter Press Services dưới cương vị giám đốc phụ trách châu Á Thái Bình Dương ở Manila. Tại đó, ông đã tham gia vào việc đưa tin và biên tập nhiều tin bài  của khu vực thường  bị các hãng thông tấn lớn tảng lờ. Ông là tác giả của cuốn sách: “Nghề báo khi hành tinh là quan trọng”, được sử dụng ở các trường đại học báo chí trên toàn thế giới, hướng dẫn sinh viên viết một cách có ý nghĩa về các vấn đề môi trường và phát triển. Ông cũng đồng thời là giáo sư của trường đại học Katmandu, tham gia giảng dậy về báo chí và truyền thông.

 

 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TỪ CƠ SỞ

Đưa mắt nhìn khắp thế giới hôm nay, đâu đâu ta cũng thấy chỉ một nền văn hoá  đầy đơn điệu

Sở hữu về truyền thông giờ đây đang dần tập trung vào tay của một số ít người. Ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu  này coi con người như là những người tiêu dùng chứ không phải là các công dân. Nôi dung ngày càng mang tính giải trí, được đóng gói và bán như những những hộp thịt gà Mc Donald nhằm thu hút tối đa lượng độc giả trên toàn thế giới.

Những tiến bộ về công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy nhanh hơn xu hướng này, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Cách đây mười năm, chúng ta còn nghĩ rằng Internet sẽ giúp san bằng những cách biệt trên sân chơi này, mang lại tiếng nói cho những người vốn vô thanh, nhưng chẳng phải chờ đợi lâu, không gian ảo chẳng bao lâu sau cũng bị chi phối bởi chính những thực thể đã thống trị ngành truyền thông truyền thống. Trên thực tế, sự hội tụ của truyền hình, viễn thông và mạng máy tính đã khiến cho các chủ sở hữu trong ngành truyền thông liên kết với các ngành khác để tham gia vào cuộc chơi. Và như vậy, thay vì giảm đi sự cách biệt về công nghệ số hoá, cái hố ngăn cách lại bị khoét sâu thêm.

Chúng ta đã thật ngây thơ khi tin rằng Internet sẽ là một điều gì đó thật khác biệt, mang lại cho những cộng đồng bị lép vế một cơ hội được lên tiếng. Nhưng cái cơ chế thương mại chi phối Internet cũng chẳng khác gì so với cái mà nó đã thay thế. Dường như, để có thể thu hẹp khoảng cách công nghệ số, điều trước tiên chúng ta phải làm đó là giải quyết vấn đề phân biệt về giáo dục, sức khoẻ và thu nhập trong đất nước của chúng ta và trên toàn thế giới.

Đó là lý do tại sao, kể cả khi chúng ta có thể tìm được những thông tin có ý nghĩa trên Internet thì thông tin ấy cũng bị chìm lấp trong mớ hỗn độn thông tin rẻ tiền, những chuyện tầm phào. Những người tìm kiếm những thông tin liên quan và có ý nghĩa cho họ dần đổ dồn về các trang web tạo nên những cộng đồng ảo mà ở đó họ tìm được sự đồng thuận với nhau. Điều này  “ghét-tô” hoá họ, và Internet đã dựng lên những bức tường ngăn cách thay vì xây nên chiếc cầu nối những cộng đồng mong muốn được trao đổi với nhau.

Tất cả những cái đó đã tạo nên những tác động tiêu cực đối với tính đa dạng về văn hóa của loài người, đẩy nhanh hơn quá trình biến mất của nhiều thứ tiếng, lễ hội, bài hát, và các phong cách sống khác nhau. Một số lượng đông đảo người dân trên thế giới được tiếp cận với một thứ văn hoá tiêu dùng toàn cầu thông qua truyền thông đại chúng toàn cầu, chúng làm thay đổi thói quen ẩm thực của con người, quyết định những vấn đề như: xem gì, mặc gì, nói chuyện với ai và nói chuyện như thế nào…Và khi người ta ăn thứ ngũ cốc đã được chế biến thì những loại thức ăn bản xứ biến mất. Khi chúng biến mất thì những người nông dân trồng kê, trồng rau, và trồng lúa mỳ sẽ mất kế sinh nhai. Khi có những con tàu ra khơi đánh bắt cá bằng lưới quét tận đáy thì sẽ không còn đủ cá cho những ngư dân truyền thống nữa và họ sẽ di cư đến sống ở những khu ổ chuột ở các thành phố. Những ngư dân ở miền trung Philippines đã từng sử dụng mười lăm từ khác nhau để chỉ các loại gió thổi qua các hòn đảo của họ, nhưng khi họ không còn đi biển nữa thì những từ ấy cũng biến mất.

Ở Châu Á, chúng ta xem Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc như những đại diện tiêu biểu cho việc truyền thông hiện đại có thể tồn tại song song với bảo tồn văn hoá. Và một điều chắc chắn là bên dưới lớp vỏ bên ngoài của phong cách ăn mặc và ứng xử  âu hoá, báo chí đã giúp người dân những nước  này vừa quảng bá vừa bảo tồn nền văn hoá của họ.

Về điều này, Nam Á không được thành công cho lắm. Nội dung của truyền thông được cung cấp qua ngôn ngữ địa phương không luôn đồng nghĩa với việc nó bảo vệ các giá trị và văn hoá bản địa. Có những vở kịch dài kỳ bằng tiếng Hindi trong đó các tình tiết hầu như được copy lại y nguyên những seri phim truyền hình mang tính cải lương như: “Dallas”, “Bold and Beautiful”. Những chương trình này đều mang một vẻ như nhau, các sản phẩm được quảng cáo là tất cả những vật dụng tiêu dùng do các công ty đa quốc gia sản xuất. Hầu như không mấy ai nghĩ đến phong cách sống khác, không ai dám tán thành việc hạn chế tiêu dùng lãng phí để bảo vệ bầu sinh quyển của trái đất.

Kết quả là truyền thông toàn cầu đang trực tiếp và gián tiếp quảng bá cho một lối sống không bền vững mà sẽ không mang lại kết cục tốt đẹp nào trong tương lai. Người ta cứ sử dụng một mức tiêu thụ năng lượng giống như một gia đình Mỹ tiêu thụ, và đốt nguồn năng lượng hoá thạch như thể sẽ không có ngày mai. Nước Mỹ với dân số chỉ chiếm 2% dân số thế giới lại tiêu dùng đến 25% tài nguyên của thế giới. Ấn Độ, và Trung Quốc – với 25% dân số thế giới sẽ cần đến 2 quả đất nếu như công dân của các nước này sống theo kiểu Mỹ. Truyền thông định nghĩa cụm từ “giàu có” và “sung túc” theo nghĩa hẹp, không tính đến việc tiêu dùng mang lại những gì cho trái đất.

Cái cách để thay đổi xu hướng đó là làm cho mọi người nhận thức được những hành vi và hành động của họ có ảnh hưởng  như thế nào đến tự nhiên và con người. Liệu sự sung túc của họ có làm cho kẻ khác nghèo đi không? Truyền thông nên nói cho con người biết hậu quả của tất cả những gì họ mua sắm, sử dụng, hay tiêu thụ. Nhưng ngày nay, giới truyền thông lại không đặt ra những câu hỏi này, vì thế con người không nhận thức được. Và khía cạnh đáng lo ngại nhất có thể thấy trong các hoạt động chính trị. Truyền thông thuộc sự sở hữu và kiểm soát của ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu không mang gì đến những giá trị phục vụ công cộng. Khi truyền hình, truyền thanh, và Internet được coi như một công cụ marketing thì không có sự khác nhau giữa việc bán một chiếc bánh hamburger với bán một tờ báo. Mục đích là nhằm tối đa hoá lượng độc giả sao cho sự hâm mộ của công chúng có thể chuyển thành lợi nhuận thương mại. Internet cũng đã rơi vào lối mòn này: làm thế nào để biến những cặp mắt dõi theo trang web thành những đồng đôla?

Các công dân bị chủ nghĩa thoát ly thực tế của truyền thông đại chúng biến thành lãnh đạm và mê tín. Khi tin tức được đưa ra, nó được coi như một môn thể thao thu hút nhiều khán giả và như một cuộc cãi lộn không ngớt giữa những câu chuyện của ngày hôm nay với những câu chuyện của ngày hôm qua. Truyền thông không có đủ thời gian mà cũng chẳng thể vượt ra ngoài chiến lược hành động của các hoạt động chính trị để phân tích, giảng giải những vấn đề giúp cho ai ai cũng hiểu được.

Trong một nền dân chủ, đây là một sai lầm tai hại. Nếu truyền thông không truyền tải thông tin và khách quan khuyến khích tranh luận về các vấn đề thì các chính sách không thể được xây dựng. Dân chủ cần sự tham gia của công chúng mà để có được sự tham gia của công chúng lại cần đến một môi trường truyền thông sôi động và đa chiều. Truyền thông là một phần thiết yếu của mạch phản hồi cho phép công dân và những nhà cầm quyền biết được cái gì đang diễn ra trong xã hội để từ đó đưa ra hành động hợp lý. Không có mạch phản hồi thì các quyết định đưa ra có thể sẽ sai lệch, nhầm lẫn, bị trì hoãn, hay bị bóp méo. Để có thể duy trì nền dân chủ, các kênh truyền thông phải thực sự trong sạch, sắc sảo và đáng tin cậy. Các chính phủ phải đối đãi ngành truyền thông khác hơn so với các ngành công nghiệp chế tạo khác, nó cần sự quan tâm sát sao hơn.

May thay, cũng có khá nhiều yếu tố chống lại khuynh hướng thương mại hoá cao độ của giới truyền thông đang lan rộng khắp thế giới. Tầng lớp những người bình dân, cộng đồng cư dân địa phương đang sử dụng mạng lưới truyền thông địa phương nhằm phát triển truyền thông theo chiều ngang để thông tin không chỉ mang tính giải trí mà còn có sức mạnh chiến đấu. Họ đang tìm lại những giá trị của dịch vụ công cộng cho phép sự tham gia của công chúng trong quá trình ra quyết định, khuyến khích công chúng tranh luận các vấn đề để họ có thể đánh giá được sự lựa chọn của họ, đồng thời cho phép các nhà lãnh đạo có thể tiếp xúc, tương tác với họ.

Ở nơi nào mà truyền thông cơ sở phát huy tác dụng vốn có của nó thì ở đó nền dân chủ mới được củng cố vững chắc và do đó đem đến sự phát triển. Ở nơi nào mà truyền thông không đầy đủ và không phù hợp thì ở đó thiếu đi nền dân chủ từ gốc rễ và sẽ không có được sự phát triển.

Ở Thái lan, Philippines và Indonesia, sự phát triển của truyền thanh cộng đồng đã trực tiếp mang đến tiếng nói cho các cộng đồng người dân sống ở vùng nông thôn và vì thế người dân ở đây được lắng nghe. Còn ở vùng nông thôn Ấn Độ, truyền thanh chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ, rất kém phát triển và kém gắn bó. Tại đất nước của tôi, Nepal, chúng tôi đã được chứng kiến truyền thông cơ sở đã giúp các cộng đồng ở đây như thế nào để họ có thể có tiếng nói trong cuộc sống và có thể điều khiển được vận mệnh cuộc đời mình. Điều này đã làm thay đổi thái độ của họ: biến họ từ những người tin vào số mệnh, những người nông dân bị động trở thành những công dân nhạy bén về mặt chính trị, những người biết rất rõ và có yêu cầu về quyền lợi cho bản thân mình. Những sự kiện chính trị trong năm nay ở Nepal là kết quả trực tiếp của việc truyền thông tới dân chúng đã giúp có được những giá trị dân chủ từ gốc rễ như thế nào.

Khắp châu Á, việc chuyển giao quyền quyết định cho các cộng đồng địa phương cũng đang giúp thay đổi cách người ta ra quyết định, chủ yếu dựa vào việc sử dụng và chia sẻ tài nguyên thiên nhiên như thế nào. Cách đây hai mươi  năm, truyền thông quốc tế đã thổi phồng lên rằng nghèo đói đang buộc những người dân ở vùng núi Himalaya phải chặt phá rừng do đó gây ra xói mòn, sụt lở đất và lụt lội ở Ấn Độ, Bangladesh. Điều này phần nào đúng sự thật nhưng những gì mà truyền thông không đưa tin đó là dãy núi Himalaya Nepal ngày nay đang chứng kiến sự tái sinh của các khu rừng và độ bao phủ nhiều hơn 15% so với năm 1980. Điều này có được là nhờ cộng đồng cư dân địa phương đã được trao quyền tự quyết định bảo vệ và sử dụng nguồn rừng ở địa phương.

Không phải là một sự trùng hợp khi hai mô hình phát triển nông thôn khác của Nepal đã thành công nhờ vào những nỗ lực của các cộng đồng: cộng đồng cư dân sống ở rừng và cộng đồng của hệ thống truyền thanh. Cả hai cộng đồng này đã hỗ trợ lẫn nhau và cùng nhau giúp cộng động dân cư bên kia dãy Himalaya dành lại lòng tự trọng của mình và làm cho họ có được cảm giác độc lập hơn.

Suy cho cùng, đây là điều mà nền chính trị trong một chế độ dân chủ phải làm để nâng cao mức sống của người dân. Và đây cũng là nơi vai trò của một ngành truyền thông phi tập trung được phát huy cao độ. Truyền thông mang tính thương mại toàn cầu không phải là giải pháp, ngược lại, nó là một phần của vấn đề.

***

Nguyễn Thanh Sơn: Chiều qua, kênh truyền hình AXN của Nhật chiếu lại bộ phim Shattered Glass của hãng Lion Gate, bộ phim mà nhiều người nói, và tôi cũng đồng ý, là phải được chiếu cho toàn bộ các khoa báo chí của các trường đại học xem.

Kunda Dixit: Tôi nhớ rồi, đó có phải là bộ phim về phóng viên trẻ Steven Galss của tờ The New Republic, người đã dùng cách bịa ra một phần, hoặc toàn bộ các bài báo của mình để được nổi tiếng?

Nguyễn Thanh Sơn: Đúng vậy. Chúng ta có thể dùng ngay bộ phim đó để bắt đầu cho cuộc trao đổi của chúng ta. Cho dù Steven Glass không phải người đầu tiên, không phải người cuối cùng, nhưng phải chăng chúng ta đang có những vấn đề lớn về đạo đức của nghề báo? Sau gần ba mươi năm làm nghề báo, ông nghĩ nghề báo đã có những thay đổi nào, so với mười lăm năm trước, khi ông đang còn là phóng viên của BBC? Ông nói cái làm ông thất vọng nhất, đó là cách cư xử của giới truyền thông trong việc đưa tin về các cuộc xung đột. Ông đã nói, giới truyền thông làm cho các cuộc xung đột trở nên tệ hại hơn?

Kunda Dixit: Sau hơn mười lăm năm làm nghề báo, đưa tin về hàng loạt các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới, tôi quay trở về Nepal và đối mặt với một cuộc xung đột vũ trang ở ngay quê hương của mình. Có một sự khác biệt rất lớn trong việc bạn đưa tin về các cuộc chiến tranh “ở nơi khác” so với đưa tin về cuộc chiến tranh của chính bạn, trên chính Tổ quốc mình. Và tôi thấy mình cần phải định nghĩa lại nghề báo, định nghĩa lại cách truyền thông về các cuộc xung đột, định nghĩa lại trách nhiệm của phóng viên. Tại các trường báo chí phương Tây, họ dậy chúng tôi rằng giới truyền thông sống được là nhờ các cuộc xung đột, các cuộc chiến tranh, rằng đưa những tin tiêu cực là cách tồn tại của giới truyền thông, rằng phóng viên không được can thiệp vào các sự kiện, mà chỉ là “người quan sát”, “người đưa tin”. Còn nếu như phóng viên đưa tin về những thoả hiệp, đưa tin về những giải pháp- đó không phải là “tin”. Và như thế, truyền thông về các cuộc chiến tranh hay xung đột không phải là một giải pháp, mà chính nó trở thành một phần của vấn đề.

Nguyễn Thanh Sơn: Vâng, người ta đã đánh dấu hỏi về đạo đức của nghề báo khi phóng viên chụp ảnh một con chim kền kền đang rình mò một đứa trẻ châu Phi sắp chết đói. Nhưng như vậy có nghĩa là giới truyền thông phải lựa chọn vị trí mình đứng, và như vậy thì không còn có thông tin khách quan nữa?

Kunda Dixit: Martin Bell, một cựu phóng viên của BBC, đã đưa ra một quan niệm mới nói về một nghề báo, một “nghề báo của sự gắn bó”, tức là một nghề báo phải quan tâm nhiều như biết. Là phóng viên thường trú tại Sarajevo trong 43 tháng của cuộc chiến tranh, ông mạnh mẽ đòi hỏi phóng viên báo chí phải lựa chọn chỗ đứng của họ, chỗ đứng bên cạnh lẽ phải và sự công bằng.

Nguyễn Thanh Sơn: Chiến tranh Iraq có lẽ là một ví dụ tốt, nếu như chúng ta so sánh cái cách báo chí đưa tin về chiến tranh Iraq so với chiến tranh Việt nam. Trong chiến tranh Việt nam, giới truyền thông đã làm được việc mà như người ta nói, “đưa cuộc chiến tranh vào phòng ngủ của nước Mỹ”. Rất nhiều phóng viên đã đưa tin về chiến tranh nhìn từ góc độ của những nạn nhân của chiến tranh, và ngay khi đưa tin dưới cái nhìn của những người lính Mỹ thì cũng đưa tin dưới những góc độ khác nhau, trong đó có góc độ của những nạn nhân. Chứ còn cái cách giới truyền thông đưa tin về chiến tranh Iraq thì…

Kunda Dixit: Chúng ta phải nói cụ thể là giới truyền thông Mỹ. Chính phủ Mỹ đã học được rất nhiều từ cuộc chiến tranh Việt nam, họ hiểu rằng, trước khi thua trong cuộc chiến thực sự, thì từ lâu họ đã thua trong cuộc chiến truyền thông. Và vì thế họ đã chuẩn bị rất cẩn thận cho những cuộc chiến tranh hoặc xung đột sau này. Hãy xem từ Grenada, Panama, chiến tranh Iraq lần thứ nhất cho đến chiến tranh Iraq lần thứ hai, giới truyền thông Mỹ đã chỉ đưa những thông tin mà chính phủ Mỹ và bộ Quốc phòng Mỹ muốn đưa, đặc biệt là truyền hình. Nếu cứ tin theo những hình ảnh của truyền hình Mỹ, thì đây là những cuộc chiến tranh không có đổ máu. Chúng ta không thấy những hình ảnh máu me, chết chóc trên truyền hình, không thấy các nạn nhân, không thấy dân thường. Tất cả những gì mà chúng ta thấy là hình ảnh của các loại vũ khí thông minh, những quả bom được lái và định hướng, ánh laser và chớp sáng của những vụ nổ. Người ta cho chúng ta thấy một cuộc chiến tranh như một trò chơi video. Và điều kinh khủng nhất là giới truyền thông tham gia vào việc trở thành một công cụ của chiến tranh một cách tự nguyện. Tất nhiên dưới ảnh hưởng của vụ 11/9, người Mỹ đang có nhu cầu được đấm vỡ mũi một địch thủ nào đó, nhưng truyền hình Mỹ đã hoàn toàn mất đi tính độc lập và khách quan của nghề báo, và điều đó thật đau buồn. Tôi không chỉ nói về Fox News, nhưng cái chính là Fox News đã kéo theo cả cái cách mà CNN đưa tin về cuộc chiến tranh Iraq.

Nguyễn Thanh Sơn: Ông nói là ông có hai điều thất vọng về giới truyền thông ?

Kunda Dixit: Vâng, điều thất vọng thứ hai là Internet. Internet đã không làm được cái mà người ta tưởng nó có thể làm được: làm cho thế giới trở thành một ngôi nhà chung, làm cho con người và các dân tộc gần gũi với nhau hơn.

Nguyễn Thanh Sơn: Trong bài viết của mình, ông có nói đến việc thay vì xoá bỏ các rào cản giữa các cộng đồng, Internet lại “ghét-tô” hoá con người, và người ta chỉ đọc những gì người ta muốn đọc, chỉ tham gia vào các cộng đồng ảo đồng chủ kiến với họ, tóm lại là dựng nên các hàng rào thay vì xoá đi các hàng rào. Đó là một cái nhìn rất đáng quan tâm, nhưng liệu có bi quan quá không? Internet, dù sao đi chăng nữa, cũng tạo điều kiện cho những người chưa bao giờ được lắng nghe có quyền lên tiếng. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển…

Kunda Dixit: Không phủ nhận Internet đã làm được rất nhiều việc, nhưng tôi không chịu được chuyện có rất nhiều người coi Internet là một cây đũa thần kỳ có thể giải quyết được tất cả mọi việc. Internet là hình ảnh phản ánh thế giới của chúng ta đang sống, với tất cả những chia rẽ về chủng tộc, tôn giáo, chính trị, quốc gia. Người ta đã từng kỳ vọng truyền hình vệ tinh có thể đem các quốc gia tiến gần đến với nhau hơn, nhưng nó không làm được điều đó. Internet cũng vậy, nó không bắc được những cây cầu giữa các dân tộc như nhiều người lầm tưởng.

Nguyễn Thanh Sơn: Vậy vấn đề của Internet ở những nước đang phát triển ở châu Á là gì?

Kunda Dixit: Có hai vấn đề, một là khả năng tiếp cận, và thứ hai là chi phí. Khi chúng ta nói đến khả năng tiếp cận, chúng ta nói đến ngôn ngữ. Mặc dù nội dung tiếng Anh trên mạng đã giảm từ 95% xuống khoảng 75%, ngôn ngữ tiếng Anh của các nội dung trên mạng vẫn là một rào cản lớn đối với những người mà ngôn ngữ tiếng Anh không phải ngôn ngữ mẹ đẻ, kể cả ở những nước mà tiếng Anh rất phổ biến như Nepal. Chi phí cho một người sử dụng Internet có thể không phải là lớn đối với tầng lớp trung lưu châu Á, nhưng đừng quên là có biết bao nhiêu người dân châu Á sống dưới, hoặc ngang bằng với mức nghèo khổ. Đối với họ, khoản tiền để mua máy tính, phí điện thoại, hay thậm chí ra quán cà phê Internet cũng là một khoản tiền không nhỏ. Và như vậy, Internet lại đào sâu “khoảng cách số” giữa các tầng lớp trong xã hội. Ý kiến của tôi là, một khi anh chưa tận dụng hết mức các phương tiện truyền thông truyền thống, thì cũng đừng mong gì anh tận dụng được Internet trong việc đem thông tin và kiến thức đến cho quần chúng lao động. Hãy cứ lấy một ví dụ như đài truyền thanh chẳng hạn. Ở một đất nước đồi núi như Nepal, đài truyền thanh là một phương tiện cực kỳ hữu hiệu cho quần chúng, và chúng tôi đã tận dụng rất tốt phương tiện này. Vấn đề là chúng tôi đã “địa phương hoá” các chương trình truyền thanh, giảm việc phát các chương trình quốc gia để tập trung vào các chương trình địa phương. Thông qua đài truyền thanh FM địa phương, người dân có điều kiện nói lên tiếng nói của mình, vấn đề của mình, thu nhận thông tin trên thế giới- với một chi phí rất rẻ. Tôi là người ủng hộ đài truyền thanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

Nguyễn Thanh Sơn: Chúng ta đã nói nhiều đến công cụ truyền thông, vậy còn nội dung truyền thông thì sao?

Kunda Dixit: Vâng, anh cũng thấy về nội dung, trên Internet có quá nhiều thứ rác rưởi, và lượng rác trên Internet càng ngày càng khổng lồ. Thời gian để con người tìm ra một thứ đáng đọc càng ngày càng nhiều lên. Vai trò của các công cụ tìm kiếm với bộ lọc thông minh sẽ càng được đề cao. Internet, trong khi trao quyền tự do cho con người phát biểu ý kiến, thì lại không góp phần xây dựng được ý thức của người viết, để họ hiểu rằng tự do của anh có giới hạn trong mối tương quan với tự do của người khác, cho nên, nó mở đường cho chủ nghĩa cực đoan trên Internet, với rất rất nhiều những thảo luận, tranh luận cực đoan. Internet là hình bóng phản ánh sự chia rẽ của chúng ta.

Nguyễn Thanh Sơn: Với sự đóng cửa của một số tạp chí và báo lớn như Far Eastern Economics Review hay Asia Wall Street Journal (và một số tạp chí danh tiếng khác cũng gặp phải những khó khăn về tài chính), ông có nghĩ là báo chí nghiêm túc đã thua trong cuộc cạnh tranh với báo chí thuộc, như ông gọi, một nền văn hoá tiêu dùng toàn cầu? Là chủ bút kiêm nhà xuất bản của Nepali Times, ông đã đối mặt với cuộc cạnh tranh đó như thế nào?

Kunda Dexit: Tôi nghĩ các tạp chí như FEER và AWSJ đã thua vì Internet. Độc giả ngày nay khó lòng chờ đợi một khoảng thời gian dài chỉ để đọc các bài báo nghiêm túc, bình luận các vấn đề lớn. Họ cần ngay bây giờ, ngay ở đây, và Internet cho họ khả năng đó. Tôi không nghĩ là báo giấy đã đến lúc cáo chung, vẫn còn những độc giả muốn đọc một tờ báo ở bất cứ đâu, cho nên khả năng linh hoạt của báo giấy vẫn là một lợi thế của nó, nhưng độc giả của nó càng ngày càng thu hẹp lại. Một ấn phẩm báo điện tử sẽ thất bại nếu nó chỉ là bản điện tử của một tờ báo giấy. Một tờ báo điện tử phải được tăng cường các dịch vụ giá trị gia tăng và khả năng tương tác, ví dụ như sử dụng truyền thông đa phương tiện, liên kết với các blog, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với tác giả, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với nhau…vv. Như các trang điện tử của BBC hay đặc biệt là Gurdian Unlimited chẳng hạn, họ đã làm rất tốt chuyện đó. Đó cũng là hướng đi với tờ Nepali Times của chúng tôi.

Nguyễn Thanh Sơn: Nếu như có một dự đoán cho tương lai của truyền thông châu Á?

Kunda Dexit: Tôi nhấn mạnh vai trò của truyền thông cho quần chúng ở địa phương, và vai trò “địa phương hoá” nội dung, cho dù chúng ta dùng công cụ truyền thông gì, đài truyền thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử hay Internet

Nguyễn Thanh Sơn: Cám ơn ông.

Cái chết của Báo chí

Nov 22

Adrian Monck: báo chí truyền thống đã chết

“Quan hệ báo chí theo kiểu cũ đã chết”- ông Miles Young, Tổng giám đốc của tập đoàn truyền thông tiếp thị Ogilvy viết trong bài phát biểu của ông tại hội nghị những nhà lãnh đạo của tập đoàn này ở Praha.

“Báo chí truyền thống đang chết, hoặc thực ra đã chết rồi”- Adrian Monck giám đốc phụ trách báo chí và truyền thông cho Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói tại hội nghị những nhà kiến tạo toàn cầu (Global Shapers) của Diễn đàn Kinh tế thế giới tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ. Là cựu trưởng khoa báo chí của trường đại học City Of London University, ông Monck có một sự nghiệp báo chí lừng lẫy.  Bắt đầu từ phóng viên tin tức của hãng CBS News vào năm 1987, ông đã theo dõi và tường thuật  các vụ khủng hoảng con tin ở Li-băng, chiến tranh Iran-Iraq, việc trả tự do cho Nelson Mandela, sự sụp đổ của nhà nước Liên Xô và bức tường Berlin cho đến chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, sau đó ông còn là phóng viên của ITN với các phóng sự về  chiến tranh từ Belfast tới Bosnia,  phóng viên truyền hình của Five News với chiến tranh ở Kosovo, Afghanistan, Irag.

“Báo chí, xét cho cùng, là ngành sản xuất kiến thức thông qua từ ngữ và những con số”-ông Monck nói. Toàn bộ thói quen tiêu dùng về truyền thông của chúng ta ngày nay đã thay đổi. Báo chí không còn độc quyền tin tức, không còn tạo dựng thương hiệu cho tin tức. Tin tức ngày nay chỉ còn là hàng hóa phổ thông, được trao đổi miễn phí giữa các cộng đồng trôi nổi trên mạng Internet. Người ta có thể có được tin tức toàn cầu dù họ ở bất cứ đâu trên thế giới. Công nghệ và cách tổ chức thông tin hiện tại đã dày xéo ảo tưởng của các tờ báo và tạp chí về sự cần thiết của các phân tích chuyên sâu, những góc nhìn thông minh, những đánh giá sắc sảo của các nhà báo- ngày nay, người tiêu dùng thông tin tự trao cho mình quyền lực đó. Với các phương pháp tra cứu tức thời và thói quen chia sẻ trên mạng, người đọc sẽ tự quyết định cho mình góc nhìn, phân tích và đánh giá- thứ trước kia họ bị lệ thuộc vào các phóng viên hay chuyên gia. Ngôn ngữ, rào cản cuối cùng cho việc tiếp xúc với thông tin toàn cầu, hiện nay cũng đang dần dần được giải quyết. Rick Rashid, Giám đốc Nghiên cứu của Microsoft Research, ngày 28 tháng 10 vừa qua đã trình diễn một cách hết sức thuyết phục cách thức máy tính tiến hành dịch nói một ngôn ngữ phức tạp như tiếng Hoa sang tiếng Anh- các phần mềm dịch thuật tự động sẽ càng ngày càng được hoàn thiện.

Báo chí, không thể không lưu ý, cũng tự đào mồ chôn mình bằng việc cho rằng, Internet cũng chỉ là một nền tảng mới cho xuất bản báo chí. Bằng chứng là họ đã rất sớm có ý thức xây dựng nên các tờ báo mạng, nhưng như ông Jack Shafer, phụ trách mục Ý kiến trên trang Reuters.com nói “ cho dù đón nhận sự phát triển của Internet rất sớm, cho dù bỏ hàng triệu đô la cho nhân lực và phần cứng, bất kể hàng đống video, đường dẫn, ngân hàng dữ liệu, các phần mềm thông minh…người đọc dễ dàng nhận ra các tờ báo mạng thực ra chỉ là phiên bản mạng của các tờ báo giấy”. Họ không hiểu được rằng, tổ chức thông tin trên mạng Internet và cách người tiêu dùng ngày nay sử dụng các thông tin đó hoàn toàn khác biệt với cách tiêu dùng thông tin truyền thống.

Vậy còn vai trò của chính phủ thì sao? Ông Adrian nhún vai “ đối với báo chí độc lập truyền thống, chính phủ còn làm cho bức tranh tồi tệ thêm. Hãy xem cái cách họ đổ tiền cho truyền hình và các trang mạng của BBC hay France 24. Trong tình hình kinh tế hiện nay, làm sao báo chí truyền thống có thể cạnh tranh với các chính phủ?”

Và đó chính là những lý do tại sao kết cục của báo chí độc lập truyền thống sẽ thật bi thảm…

Đánh giá lại giá trị của một công ty PR

Nov 22

Tuần trước, một công ty hàng đầu thế giới có đề nghị gặp tôi ở Singapore để thảo luận về kế hoạch truyền thông của họ tại Việt Nam. Đây là công ty chúng ta đã cố gắng tiếp cận trong vòng ba năm qua với rất ít kết quả. Tại sao nay họ lại muốn thay đổi đại diện truyền thông? Lý do: đại diện truyền thông của họ ở Việt Nam không ngừng nói với họ, muốn đưa được thông tin lên báo chí Việt Nam thì phải trả tiền. Muốn đăng một bài báo về sản phẩm mới được tung ra thị trường của họ ư? Tiền! Muốn trả lời phỏng vấn về một vấn đề mà họ nghĩ công chúng quan tâm ư? Tiền! Muốn phóng viên tham gia lễ ký kết một hợp đồng quan trọng của họ với đối tác Việt Nam ư? Tiền!

Đối với họ, cũng như đối với nhiều khách hàng của chúng ta, vấn đề đặt ra không phải vấn đề tiền bạc. “Nếu như thực tế ở Việt Nam, cứ muốn lên báo là phải trả tiền, chúng tôi cũng sẽ chấp nhận. Vấn đề của chúng tôi là, nếu vậy thì giá trị của đại diện truyền thông là ở đâu? Nếu như chỉ cần trả tiền là có thể lên báo, vậy có lẽ tốt nhất chúng tôi nên làm việc với các công ty media để đặt chỗ là xong. Tôi sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh với sếp của tôi lý do tại sao tôi lại phải có đại diện truyền thông tại Việt Nam”.

Đây là thực tế mà các bạn luôn gặp phải trong thời gian hai năm vừa qua. Một điều chúng ta không thể chối bỏ là báo chí đã trở thành một ngành công nghiệp chứ không còn là một ngành hoạt động công ích như trong quá khứ. Là một ngành công nghiệp, nó phải quan tâm nhiều hơn đến việc bán các sản phẩm của mình để tồn tại, bởi vì bản thân nó cũng đang đối mặt với những vấn đề mang tính sống còn. Một số người trong các bạn hẳn còn nhớ, cách đây hơn một năm, Tổng giám đốc của chúng ta, ông Miles Young đã có một bài viết nổi tiếng “Cái chết của quan hệ báo chí”. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng, điều đó còn xa xôi lắm, cho đến khi các bạn nhận ra rằng, thực ra nó đến với Việt Nam nhanh hơn chúng ta tưởng nhiều. Chúng ta phải hiểu rằng, quan hệ báo chí theo kiểu cũ đã chết.

Vậy đối với những người làm việc trong lĩnh vực quan hệ báo chí, chúng ta hoặc phải đổi mới, phải định giá lại giá trị công việc của chúng ta, hoặc sẽ “chết” theo (hoặc bị đày đọa cho đến chết) nếu cứ tiếp tục làm việc theo kiểu cũ. Tôi có phác thảo ra một số hướng về giá trị cho đại diện của công ty công nghệ kia, và họ có vẻ tán đồng với nhận định đó:

Thứ nhất, “tôn vinh những giá trị cũ, nhưng phải nỗ lực gấp đôi”: rà soát để thu hẹp danh sách báo chí, tập trung vào những tờ báo và các phóng viên vẫn duy trì niềm tin vào giá trị của thông tin có lợi cho công chúng chứ không phải vào khoản tiền mà khách hàng chúng ta mang tới. Hiểu rõ độc giả của tờ báo họ quan tâm đến vấn đề gì, hiểu rõ họ quan tâm đến vấn đề gì, hiểu rõ các chủ đề mà Ban biên tập quan tâm, hỗ trợ tối đa về thông tin, khía cạnh khai thác, ý kiến chuyên gia, hình ảnh…để họ có thể phát triển bài viết. Song song với hoạt động ngắn hạn, tăng cường hoạt đông dài hạn bằng việc xây dựng “vị thế lãnh đạo về tư duy” (thought leadership) cho khách hàng của mình. Hãy xem rất nhiều khách hàng của chúng ta luôn được báo chí tìm đến chứ không phải tìm đến báo chí. Tại sao? Thought leadership!

Thứ hai, khác biệt về giá trị của một công ty PR với một công ty media là gì? Công ty media có thể có hiểu biết về kênh (channel), nhưng họ lại thiếu hiểu biết về con người (influencers). Đối với họ, một bài viết ở cùng một vị trí, trên cùng một tờ báo có giá trị như nhau, nhưng chúng ta hiểu rằng, có một sự khác biệt rất lớn nếu như tác giả của bài báo đó là những người khác nhau. Một bài viết về kinh tế vĩ mô của một phóng viên không ai biết khác hẳn với bài viết của, ví dụ, cô Phạm Chi Lan. Một bài nhận định về thị trường Chứng khoán của phóng viên X. Y sẽ có ảnh hưởng ít hơn nhiều so với bài viết của, ví dụ, chị Hải Lý. Đo lường độ ảnh hưởng của một bài viết không thể thiếu yếu tố con người, và chúng ta phải chứng minh rằng chúng ta hiểu biết về những người gây ảnh hưởng (influencers) tốt hơn tất cả các công ty quảng cáo hay media gộp lại

Thứ ba, nếu như ngay cả điều đó chúng ta cũng không làm được, vậy thì chúng ta phải chứng minh rằng tự chúng ta có thể sản xuất ra những nội dung hấp dẫn hơn, ít nhất là 5-10 lần những phóng viên trung bình khác- công ty PR phải trở thành công ty phát triển nội dung. Chúng ta phải sản xuất ra những nội dung đặc sắc, hấp dẫn, hiện đại khiến cho độc giả yêu thích và mong muốn. Cùng với việc phát triển nội dung, chúng ta phải tự phát triển kênh truyền thông của chúng ta. Công nghệ thông tin cho phép chúng ta làm được điều đó: blogsphere và mạng xã hội cho chúng ta khả năng làm báo, Youtube và website cho chúng ta khả năng làm truyền hình, các loại podcast cho chúng ta làm radio… Đó là lý do tại sao Lucas Penneti, giám đốc toàn cầu bộ phận khách hàng Công nghệ của chúng ta nói “ngày nay mỗi một công ty có thể trở thành một tờ báo”. Vậy trước khi biến khách hàng của chúng ta thành một tờ báo, tại sao chúng ta không làm như vậy cho bản thân chúng ta? Bộ phận Social@Ogilvy của chúng ta đang bước những bước đi đầu tiên trên con đường đó, và cứ nhìn theo tốc độ phát triển của họ, tôi nghĩ đã tới lúc tất cả chúng ta phải bước lên con đường đó, nếu không sẽ là quá muộn

Tóm lại, đời đang thay đổi, và thực sự mà nói, đã không còn chỗ cho những ai không chịu thay đổi theo ngành công nghiệp của chúng ta. Sự thay đổi của báo chí không phải theo chiều hướng xấu đi hay tốt hơn, đơn giản là nó chỉ thay đổi, và hoạt động quan hệ báo chí của chúng ta cũng phải thay đổi. Mong các bạn suy nghĩ nhiều hơn về điều đó, bởi vì nếu không, đối thủ cạnh tranh của chúng ta sẽ được gọi sang Singapore, chứ không phải chúng ta

Chuyển giao Quyền lực tại Trung Quốc- Báo cáo của bộ phận QHCP OgilvyPR

Nov 21

Sáng thứ Năm, ngày 15/11/2012, ông Tập Cận Bình đã sải bước trên thảm đỏ của Đại Lễ đường Nhân dân, theo sau là 6 thành viên của Ban thường vụ Bộ Chính trị, hoàn tất cục diện mới trên bản đồ chính trị của Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh trong bài phát biểu đầu tiên trên cương vị Tổng Bí thư: “Hôm qua, Đại hội lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi. Chúng ta cũng vừa hoàn tất Phiên họp toàn thể đầu tiên của Ban chấp hành Trung ương thứ 18 và bầu ra Ban lãnh đạo mới.”

Dù ông Tập Cận Bình đang từng bước vững chắc mở ra một chương mới và dẫn đầu thế hệ lãnh đạo hiện đại của Đảng Cộng sản, chúng ta cũng cần lưu ý đến tính kế tục trong hệ thống chính trị Trung Quốc, khi đội ngũ của ông Tập Cận Bình vẫn duy trì tính bảo thủ cố hữu trong Đảng, ngay cả khi họ đang đối diện với một tương lai đầy phức tạp và khó khăn.

Kết quả bầu cử trùng hợp với dự đoán của đa số giới quan sát Trung Quốc, giúp chúng ta có thể định hình viễn cảnh của 10 năm tới. Dưới đây là tổng hợp một số xu hướng và thông điệp nổi bật của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18:
Kế tục đường lối

Trong bản báo cáo dài 64 trang đọc trước Quốc hội, nguyên Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã đặt nhiệm vụ cho thế hệ lãnh đạo kế tiếp khi ông nhấn mạnh Đảng cần “giữ vững con đường cải cách và mở cửa” và “hoàn thành việc phát triển một xã hội tương đối thịnh vượng”. Ông cũng khẳng định “triển vọng phát triển khoa học” của ông đã được đưa vào Điều lệ Đảng.

Việc nhấn mạnh mục tiêu duy trì ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, trong quá trình chuyển giao quyền lực, giúp tạo cơ sở để tiếp tục truyền bá mạnh mẽ tư tưởng Đảng Cộng sản và bảm đảm ổn định chính trị.  Không có quan điểm của phe phái chính trị nào được ưu ái trong cả tuần lễ biểu dương các thành tựu có thể lượng hóa “bằng con số”, xác định mức tăng trưởng của Trung Quốc, và khẳng định những di sản để lại cho thế hệ kế tục, được tổ chức nhằm kỷ niệm 10 năm lãnh đạo của ông Hồ Cẩm Đào.
Lược bỏ chủ đề cải cách chính trị

Đại hội lần này cũng ít đề cập đến cải cách cơ cấu chính trị. Lần cuối cùng chủ đề này xuất hiện nổi bật trong chương trình nghị sự Đại hội Đảng là năm 1987, và kể từ đó, không còn thường xuyên được nhắc lại. Bất chấp sự thúc đẩy mạnh mẽ của phe cải cách trong thời gian chuẩn bị cho Đại hội Đảng, trong đó có cả việc lưu hành rộng rãi một bài báo ủng hộ cải cách của Hồ Đức Bình (Hu Deping) (con trai cựu Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang), cải cách chính trị vẫn không được nhắc tới trong cả tuần nghị sự. Hai nhà cải cách được trông đợi nhiều nhất, Uông Dương (Wang Yang) và Nguyên Triều (Yuan Chao), đã không có tên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị.

Mặc dù nội bộ Đảng còn do dự trong việc thảo luận về cải cách cơ cấu chính trị, có rất nhiều bằng chứng thể hiện việc các nhà lãnh đạo đã bắt đầu quan tâm đến sự cần thiết phải thay đổi và cải thiện. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong hơn 60 năm lịch sử của đại hội, chủ đề “Nhân dân” được nhắc tới áp đảo về cả tần xuất lẫn nội dung so với các chủ đề về “Đất nước” và “Đảng”.

Trong bài phát biểu trước toàn dân sau khi kết thúc của Đại hội, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh nhiệm vụ cao cả nhất của Đảng Cộng sản: “Đảng ta là một Đảng chính trị hết lòng phục vụ nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân đạt được những thành tựu thu hút được sự chú ý của toàn thế giới. Chúng ta có mọi lý do để tự hào. Tuy nhiên, chúng ta tự hào nhưng không tự mãn, và chúng ta sẽ không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng.”

Chất lượng cuộc sống của người dân được đưa lên hàng đầu

Căng thẳng xã hội đã được nhấn mạnh liên tục trong tuần nghị sự với trọng tâm đặt vào chất lượng cuộc sống của người dân và việc giải quyết các nguyên nhân gây căng thẳng xã hội đang ngày càng gia tăng. Một trong những thành quả cụ thể là quy định bất cứ dự án lớn nào cũng buộc phải có đánh giá toàn diện các rủi ro xã hội. Tuyên bố này phản ánh sự hiểu biết và phản hồi ngày càng tăng của Đảng trước những lệch lạc xã hội và những hệ quả về môi trường luôn đi kèm các dự án quy mô lớn.

Rõ ràng Đảng Cộng sản đã nhận thức được những vấn đề cấp thiết mà người dân Trung Quốc đang phải đối mặt. Ông Tập Cận Bình đã liệt kê từng điểm trong bài phát biểu của mình: “giáo dục tốt hơn, công việc ổn định hơn, thu nhập cao hơn, an ninh xã hội đảm bảo hơn, dịch vụ y tế có tiêu chuẩn cao hơn, điều kiện sống tốt hơn, và môi trường sống đẹp hơn”. Điều này đạt được hay không là tùy thuộc vào lớp lãnh đạo mới có giải quyết các vấn đề chung hay chấp nhận đánh đổi sự suy đồi của xã hội trong một giai đoạn phát triển quan trọng. Tuy nhiên, các nhà phân tích chỉ ra rằng với tình hình 5 thành viên của Ban thường vụ Bộ Chính trị sắp nghỉ hưu trong 5 năm tới, ông Tập Cận Bình có thể sẽ tập trung phần lớn nguồn lực chính trị của mình cho việc sắp xếp bố trí người kế nhiệm hơn là lo cải cách.

Xiết chặt kỷ cương Đảng

Vấn đề tham nhũng là trọng tâm trong bản báo cáo của cựu Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào. Ông khẳng định tham nhũng đã “đe dọa sự ổn định và nền tảng của Đảng Cộng sản và của đất nước”. Trong suốt tuần nghị sự, chủ đề tham nhũng đã liên tục được nêu bật, và còn được nhắc tới thông qua việc áp dụng các quy định nghiêm khắc hơn về nhân sự Đảng.

Đây là một vấn đề cấp thiết đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi hàng loạt các vụ bê bối về tham nhũng ở cả cấp cao nhất đã làm xói mòn quyền lực của Đảng. Việc ông Tập Cận Bình thậm chí còn đề cập đến tham nhũng một cách thẳng thắn hơn ông Hồ Cẩm Đào, khi ông nêu rõ các nhiệm vụ cần giải quyết bao gồm “các vấn đề về tham nhũng và nhận hối lộ của một số Đảng viên và cán bộ”, gửi đi thông điệp rằng ông Bình dự định điều chỉnh đường lối và xiết chặt hơn nữa kỷ cương của Đảng.

Một tín hiệu nữa về tăng cường chống tham nhũng là việc ông Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan), một người rất có ảnh hưởng, được mệnh danh là “lính cứu hỏa” của Đảng Cộng sản, được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng. Ông Vương trước đây từng được cân nhắc làm ứng cử viên cho vị trí thứ hai hoặc thứ ba trong Đảng, nơi ông có thể tận dụng được thế mạnh của mình trong lĩnh vực tài chính và đầu tư. Quyết định bổ nhiệm gây ngạc nhiên của ông Vương có thể báo hiệu cam kết cải thiện hình ảnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc chống tham nhũng và lạm dụng quyền lực.

Quyền lực lãnh đạo đã sang trang?

Sự xuất hiện đột ngột, liên tục, và nổi bật của ông Giang Trạch Dân trong tuần nghị sư đã thu hút sự chú ý của dư luận và hướng sự tập trung vào vai trò mà các “chính khách Trung Quốc kỳ cựu” nắm giữ sau khi nghỉ hưu. Ông Giang Trạch Dân phát biểu ngay sau ông Hồ Cẩm Đào tại Lễ khai mạc Kỳ họp và ông được nhắc đến liên tục trong các báo cáo của Đảng trong cả tuần. Rất nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các nhà phân tích coi sự trở lại của ông Giang Trạch Dân là một bước lùi đối với cá nhân và đội ngũ của ông Hồ Cẩm Đào.

Tuy điều này chưa hẳn thể hiện định hướng tương lai nhưng cũng cho thấy một sự đoạn tuyệt đối với quá khứ. Các bài báo trong tuần nêu bật sự chuyển giao quyền lực và nghỉ hưu của ông Hồ Cẩm Đào và ông Giang Trạch Dân. Ông Hồ Cẩm Đào đã kết thúc tuần làm việc khi rút lui khỏi vai trò Tổng Bí thư và Chủ tịch Quân ủy Trung ương, chuyển lại các vị trí này cho ông Tập Cận Bình.

Tất cả các dấu hiệu đều cho thấy sự ra đi nhẹ nhàng của ông Hồ Cẩm Đào đồng nghĩa với một lệnh cấm mang tính hệ thống đối với sự can thiệp chính trị của các nhà lãnh đạo đã nghỉ hưu. Điều này nhằm tránh lặp lại tình huống trước đây khi ông Giang Trạch Dân vẫn nắm giữ quyền lực trong 2 năm sau đó, một cách trực tiếp khi duy trì vị trí Chủ tịch Quân ủy Trung ương, và gián tiếp qua các chỉ thị giúp ông tiếp cận tất cả các tài liệu chính trị quan trọng.

Rời bỏ sự nghiệp chính trị, ông Hồ Cẩm Đào cũng như ông Giang Trạch Dân, chấp nhận giảm thiểu vai trò của các chính khách đã nghỉ hưu, củng cố thể chế của Đảng Cộng sản, và thiết lập nên một tiền lệ mới cho tương lai.

Kết luận

Danh sách bổ nhiệm lãnh đạo mới của Trung Quốc đang định hình, và có cơ sở để tin tưởng vào khả năng Ban lãnh đạo mới sẽ tiếp nối thành công của Trung Quốc suốt 30 năm qua.

Với việc cắt giảm số lượng thành viên của Ban thường vụ từ 9 xuống 7 thành viên, Bộ Chính trị đã rút ngắn con đường đi đến đồng thuận và một lần nữa nhấn mạnh yếu tố quyết đoán trong lãnh đạo, nhằm cải thiện việc áp dụng các chính sách quản lý nhà nước và nhanh chóng đưa ra các điều chỉnh cần thiết cho các vấn đề kinh tế chính trị hiện tại.

Thêm vào đó, 5 trong số 7 thành viên của Ban thường vụ có kinh nghiệm sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế hoặc tài chính, trong khi các lãnh đạo trước đây đều xuất thân từ lĩnh vực kỹ thuật. Quá tập trung sự chú ý vào công tác cải cách chính trị, nhiều nhà quan sát Trung Quốc đã quên mất rằng nền tảng cho sự thần kỳ kinh tế của Trung Quốc được xây dựng bởi những người như Tập Cận Bình, Trương Cao Lệ (Zhang Gaoli) và Du Chính Thanh (Yu Zhengsheng) nhờ thành quả phát triển địa phương, bởi Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan) về tài chính trung ương, và bởi Trương Đức Giang (Zhang Dejiang) về công nghiệp và giao thông.

Cuối cùng, lời nói và hành động của Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã thể hiện rõ sự tự hào và tin tưởng vào thành công hiện tại cũng như tương lai của Trung Quốc:

“Sức mạnh của chúng ta bắt nguồn từ nhân dân và tập thể. Chúng ta hiểu một cách sâu sắc rằng khả năng của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng chừng nào chúng ta còn thống nhất, thì không khó khăn nào không thể vượt qua. Thời gian làm việc của mỗi cá nhân là hữu hạn, nhưng không có giới hạn nào cho việc toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân.”

Danh sách 25 lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc theo cấp bậc và dự kiến vị trí bổ nhiệm

Thường vụ Bộ Chính trị:

Ông Tập Cận Bình (Xi Jinping):                         Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch  nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Ông Lý Khắc Cường (Li Keqiang):                   Thủ tướng

Ông Trương Đức Giang (Zhang Dejiang):      Chủ tịch Quốc hội

Ông Vũ Chính Sinh (Yu Zhengsheng):          Chủ tịch Ủy ban Tham vấn Chính trị

Ông Lưu Vân Sơn (Liu Yunshan):                     (cập nhật sau)

Ông Vương Kỳ Sơn (Wang Qishan):                 Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng

Ông Trương Cao Lệ (Zhang Gaoli):                  Phó Thủ tướng phụ trách Kinh tế

Bộ Chính trị (không bao gồm Ban Thường vụ)

Ông Quách Kim Long (Guo Jinlong):    Bí thư Thành ủy Bắc Kinh (Beijing)

Ông Hàn Chính (Han Zheng):                   Bí thư Thành ủy Thượng Hải (Shanghai)

Bà Tôn Xuân Lan (Sun Chunlan):            Bí thư Thành ủy Thiên Tân (Tianjin)

Ông Tôn Chánh Tài (Sun Zhengcai):        Bí thư Thành ủy Trùng Khánh (Chongqing)

Ông Hồ Xuân Hoa (Hu Chunhua):            Bí thư  Tỉnhủy Quảng Đông (Guangdong)

Ông Triệu Lạc Tế (Zhao Leji):              Bí thư Tỉnh ủy Tân Cương (Xinjiang)

Ông Trương Xuân Hiền (Zhang Chunxian): Trưởng ban Tổ chức Trung Ương

Ông Lưu Kỳ Bảo (Liu Qibao):              Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương

Bà Lưu Diên Đông (Liu Yandong):                    Phó Thủ tướng

Ông Uông Dương (Wang Yang):                       Phó Thủ tướng

Ông Mã Khải (Ma Kai):                                   Ủy viên Quốc vụ, Tổng Thư ký Quốc vụ viện, Giám đốc Học viện Hành chính Trung Quốc

Ông Mạnh Kiến Trụ (Meng JianZhu):    Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương

Ông Lý Nguyên Triều (Li Yuanchao):    Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ông Lý Kiến Quốc (Li Jianguo):                       Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ông Phạm Trường Long (Fan Changlong):        Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương

Ông Hứa Kỳ Lượng (Xu Qiliang):                     Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương

Ông Vương Hồ Ninh (Wang Huning):   Ủy viên Quốc vụ viện

Ông Lệ Chiến Thư (Li Zhanshu):                       Chánh Văn phòng Trung ương Đảng

Ogilvy Public Relations Sweeps the 2011 Campaign PR Awards

Apr 03

Hong Kong, March 30, 2012 – Ogilvy Public Relations celebrated a remarkable year of effective PR campaigns for its clients at the 2011 Campaign PR Awards in Hong Kong on March 30. Collecting more awards than any other agency network, Ogilvy PR claimed 9 awards including 4 best campaigns, 3 Certificates of Excellence and 2 Honourable Mentions. Ogilvy also shared credit with its Team WPP partners in 2 further awards for the WPP X Team for Ford.

Serving as a judge on the awards panel this year, Steve Dahllof, Asia Pacific President & CEO, saw firsthand the high standard of work entered. “We are fortunate to partner with brave and bold clients. Our ‘What if?’ promise to them is to constantly challenge traditional, formulaic PR approaches and outline bold new courses of action that help keep their brands relevant and fresh to an increasingly savvy and vocal audience” said Dahllof.  ‘What if?’ is a credo embraced agency-wide that gives everyone at Ogilvy PR permission to challenge the status quo and foster a culture that embraces constant change.

Ogilvy PR China had a remarkable evening with a Best Business-to-Business Campaign win for IBM and Best Corporate Branding Campaign of the Year for Goodyear. It also collected awards for Issues Management for Goodyear and Promotional Activity for the Chengdu Govt.

Ogilvy PR Hong Kong picked up Best Arts & Entertainment Campaign for Madame Tussauds launch of Lady Gaga’s wax statue in a creative and cost-effective multi-channel campaign that saw the iconic attraction outpace its larger rivals Disneyland and Ocean Park in visitor growth.

In the rapidly growing field of employee communications, Ogilvy has built a deep specialisation that saw it rewarded with Best Employee Communications campaign for McDonald’s in Australia by super-sizing IT change to drive increased performance and employee satisfaction. Australia also collected 2 further awards for Consumer Launch campaign for Malaysia Kitchen launch in Australia, and Corporate Publications for The Parker & Partners Guide to working with an O’Farrell Govt.

Hai ngày với Đức Đạt Lai Lạt Ma

Nov 22

Khi nhận được lời mời tham gia vào đoàn hành hương gồm các doanh nhân, nghệ sĩ và phóng viên Việt Nam tới Dharamshala thọ giáo Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi hiểu đây có thể là cơ hội duy nhất trong đời tiếp xúc với người được suy tôn là một trong ba vị thánh nhân của châu Á trong thế kỷ XX, và là người duy nhất còn tại thế. Thân phận đặc biệt của Ngài và mối quan hệ “tế nhị” giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ cản trở bất cứ cố gắng nào mời Ngài viếng thăm Việt Nam, cho dù ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông bắt đầu được gia tăng ở đây.

Sau bẩy giờ bay và chịu đựng những cú xóc kinh người suốt gần hai mươi tiếng đồng hồ trên xe bus, chúng tôi tới Dharamshala khi trời đã tối. Dharamshala, thủ phủ chính phủ lưu vong của người Tây Tạng là một thị trấn nhỏ nằm dưới chân dãy Himalaya ở miền Bắc Ấn độ. Hãy nhắm mắt lại hình dung  ra Sapa, Mèo Vạc hay bất cứ một thị trấn vùng biên của Việt Nam, thay thế hình ảnh người Mông, người Dao bằng người Tạng, hình ảnh người Kinh bằng người Ấn độ- vậy là bạn đã hình dung ra Dharamshala. Cũng những dãy phố nhỏ dốc ngược, với hàng trăm cửa hàng nhỏ và tồi tàn bán đủ thứ đồ lưu niệm tạp nham có nguồn gốc đáng ngờ, những con ngựa thồ nặng vừa cặm cụi đi ngược dốc núi vừa vãi phân ra tung tóe trên đường, những khách sạn mini và các quán bar nhỏ xíu với các biển quảng cáo được viết cẩu thả bằng tiếng Anh, tiếng Ấn, những đống rác khổng lồ bốc mùi hôi khủng khiếp ở cạnh sườn núi. Cũng giống như các thánh địa khác, Dharamshala thu hút đủ mọi loại người: các tăng nhân người Tạng, giới bán hàng rong và đám “cái bang” Ấn độ, các nhà sư có nguồn gốc từ mọi ngóc ngách trên thế giới đang học tập tại các tu viện Mật tông, những người mộ đạo Phật, những kẻ hiếu kỳ và khách du lịch thập phương. Từ năm 1959, nơi đây đã trở thành “tiểu Lasha”, “thủ đô lưu vong” của người Tạng và hành cung của Đức Đạt Lại Lạt Ma thứ 14, Tenzin Gyatso (hay Đăng-Châu Gia-mục-thố theo phiên âm tiếng Hán).

“Qui Lão” giản dị

Trước khi tới Dharamshala, tôi đã nghe nói nhiều về tính giản dị của Đức Đạt Lại Lạt Ma, và được căn dặn ông chỉ muốn mọi người coi ông như một “nhà sư bình thường”- nhưng liệu có thể coi lãnh tụ tinh thần của gần sáu triệu người Tạng, người đã từng đoạt giải Nobel hòa bình vì đấu tranh hòa bình suốt hơn nửa thế kỷ qua cho quyền tự quyết của nhân dân Tây Tạng là một “nhà sư bình thường” như bất kỳ một nhà sư nào khác? Ấy vậy mà, đó chính là cảm giác của tôi trong buổi sáng đầu tiên, khi các thị giả dìu ông vào phòng Pháp thoại (ở tuổi 77, mặc dù trông vẫn rất khang kiện, nhưng bước chân của ông đã trở nên nặng nề)- nếu không phải khuôn mặt của ông đã trở nên quá quen thuộc với chúng tôi qua sách báo, thì ông có thể lẫn vào với bất cứ một nhà sư Mật tông nào khác. Ông ngồi đó, bộ trang phục đơn sơ hở một bên vai, hòa hợp một cách tuyệt vời với sự giản dị của tu viện Namgyal, tu viện riêng của ông, trên chiếc ghế bành đơn giản đến không thể đơn giản hơn được nữa. Ngoài một bức tranh Phật Tổ và mười bẩy bức Thang-ka họa hình các thánh tăng trang trí trên tường, thì phòng học của chúng tôi giống hệt như phòng học của bất cứ một lớp học phổ thông nào tại Việt Nam. Và câu đầu tiên của ông nói với chúng tôi (câu ông sẽ còn phải nhắc lại rất nhiều lần trong suốt hai ngày kế tiếp) là “ngồi, ngồi đi”- qua cách xua tay dứt khoát của ông, có vẻ ông rất “dị ứng” với việc chúng tôi định cử hành lễ “tam bái”, nghi lễ được các sư thầy chuẩn bị cho cả đoàn để biểu hiện lòng thành kính của chúng tôi đối với ông. “Tôi xin lỗi vì ra muộn”- ông nói vẻ hối lỗi-“ có một đoàn đại biểu của người dân tộc tôi vừa tới, và tôi phải tiếp họ một chút. Các bạn biết đấy, họ tới được đây không dễ một chút nào…”. Ngừng một chút, ông nói tiếp “ Tôi đã gặp rất nhiều người Việt Nam ở Mỹ, Pháp, Úc…và tôi luôn luôn giữ một tình cảm đặc biệt đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng đặc biệt hơn cả là đối với những người Việt Nam đến từ Việt Nam”.

Từ Đức Đạt Lai Lạt Ma toát ra một vẻ từ hòa và bình thản vô cùng, và kể từ giây phút đó, hai ngày pháp thoại của chúng tôi bên cạnh ông không còn giống như hai ngày của các tín đồ sùng tín với Đức Phật sống của họ, thế thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, mà giống như hai ngày chúng tôi trở về quê hương, ngồi hầu chuyện ông mình trong ngôi nhà cổ xưa của dòng họ, một cảm giác kính trọng nhưng vô cùng thân thuộc. Thân thuộc trong cách ông gọi chúng tôi là “các anh chị em tôi từ Việt Nam”, trong tiếng ho húng hắng của ông, trong cái cách ông tận tình trả lời bất cứ câu hỏi nào của các thành viên trong đoàn. Chúng tôi thầm gọi đùa ông là “Qui Lão”, mà quả thật, trên chiếc ghế bành của mình, trông ông rất giống một “cụ rùa”, với đôi mắt già hiền từ, toát ra một vẻ thông tuệ như đại hải mà lại tinh nghịch trẻ trung như trẻ thơ. Ông không ngừng lắc lư, ho hắng, hắt hơi, niệm chú, thỉnh thoảng lại gãi gãi gò má và liên tục pha trò trong câu chuyện của mình. Suốt hai ngày Pháp thoại, lúc nào cũng vang lên tiếng cười khà khà hóm hỉnh của ông, dường như ông luôn ngạc nhiên vì những ý tưởng của chính mình và tự cười chính những ý tưởng đó. Từ vẻ sững sờ khi một thành viên trong đoàn hỏi ông về câu nói được cho là của ông đang lan truyền trên mạng Internet (“ Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất về nhân loại? Con người- bởi vì họ hi sinh sức khỏe để kiếm tiền, rồi lại bỏ tiền ra để tìm lại sức khỏe. Họ quá sốt ruột với tương lai nên chẳng còn thời gian để tận hưởng hiện tại, kết quả là họ chẳng sống ở hiện tại hay ở tương lai. Họ sống như thể họ không bao giờ chết, rồi lại chết như chưa từng được sống”). “Tôi có nói thế bao giờ đâu! Này, đừng tin ở Internet, nó là một trong những thứ rất tốt đẹp được sinh ra, nhưng người ta cũng có thể lợi dụng nó để làm điều xấu xa đấy!”, cho đến cách ông tự trào khi các thị giả khoác lên người ông vương bào để ông làm lễ qui y và phát nguyện Bồ Đề tâm cho một số thành viên trong đoàn( “để làm lễ nên họ bắt tôi phải mặc cái áo bào này, làm như cái áo này sẽ làm cho tôi thánh thiện hơn ấy”); hay ngay cả khi ông nói đến những vấn đề hệ trọng như quan hệ với nhà cầm quyền Trung Quốc (“họ luôn gọi tôi là quỷ dữ, hôm nay thế là các anh chị em đã được gặp quỷ rồi đấy”). Và tôi hiểu, tại sao với người Tạng, ông là hiện thân của Huệ Hải (trí tuệ lớn như biển)- không gian xung quanh ông tràn ngập vẻ đẹp mêng mông của sự giản dị, trong sáng mà thâm sâu của một trí tuệ vĩ đại.

 

Qui LãoNgười ta cứ làm như khoác chiếc áo này lên tôi sẽ trở nên thánh thiện hơn

 

Vị Pháp vương giữa thế tục

 “Thế kỷ XXI là thế kỷ của lòng tham vật chất, và con người chợt nhận ra rằng, những tiến bộ của khoa học và kỹ thuật không giải quyết được những vấn đề cơ bản của con người”- ông bắt đầu buổi Pháp thoại của chúng tôi như vậy-“để giải quyết những vấn đề tinh thần của con người, có ba con đường: tin vào một (hay nhiều) đấng chúa trời như Thiên chúa giáo, Hồi giáo hay Ấn giáo; tin vào một đấng giác ngộ như Phật giáo; con đường thứ ba là con đường của chủ nghĩa thế tục, mong muốn dùng khoa học để giải quyết những vấn đề tinh thần của con người- và con đường này cũng hết sức quan trọng”

Trong suốt hai ngày Pháp thoại, chữ “chủ nghĩa thế tục” cứ quay đi quay lại trong bài giảng của ông. Có lẽ, trong các lãnh tụ tôn giáo, ông là người quan tâm nhiều nhất đến những điểm chung giữa tôn giáo và khoa học, tôn giáo và giáo dục, tôn giáo và đạo đức (“cần phải tăng cường giáo dục về đạo đức cho con người, đạo đức thế tục không có nghĩa là thiếu tôn trọng tôn giáo mà có nghĩa là tôn trọng tất cả các tôn giáo”-ông nói). Ở một nghĩa nào đó, tôi cho rằng, sự quan tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma đối với chủ nghĩa thế tục có liên quan nhiều đến sự quan tâm của ông đối với số phận của dân tộc Tạng, dân tộc ông đã dẫn dắt suốt năm mươi năm qua. Cho dù đã tuyên bố từ bỏ vai trò chính trị, không thể phủ nhận sự giằng xé  giữa vai trò nặng nề của một chính trị gia có trách nhiệm với dân tộc bị đàn áp của mình, với mong muốn đạt được sự hiểu biết và giác ngộ cho chính bản thân. Có một nối buồn ẩn sâu trong câu nói đùa của ông “ khi xảy ra chiến tranh ở Việt Nam, tụng niệm “A-di-đà-phật” có làm chiến tranh ngừng lại đâu? Cũng như dân tộc Tạng chúng tôi, tụng niệm “A-di-đà-phật” có ngăn chặn được việc chúng tôi bị giết, bị đuổi khỏi nhà, lưu vong trên xứ sở lạ được đâu? Cho nên tụng niệm “A-di-đà-phật” không đủ, phải tìm cách hiểu thế giới, tìm cách nắm được tri thức thì mới có cơ hội”

Chính vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói, trong suốt ba mươi năm qua, ông đã tiến hành hàng ngàn cuộc trao đổi với các nhà triết học, tâm lý học, vật lý và vật lý lượng tử học, và chính trong các cuộc trao đổi như vậy, hai bên đã làm giầu kiến thức cho nhau. “Các nhà khoa học hết sức quan tâm đến quan điểm của Phật giáo về thế giới, bởi vì đối với Phật giáo không có Đấng sáng tạo, mà đức Phật cũng là một chúng sinh bình thường nhưng với huệ giác cao cả, tái sinh để khai mở con đường chứng ngộ cho nhân loại mà thôi…họ đặc biệt quan tâm đến thuyết “duyên khởi” và “tùy thuộc phát sinh” của Phật giáo chúng ta, vì khái niệm mọi vật liên quan tương hỗ đến nhau của nhà Phật rất gần với cách họ hiểu về thế giới”. Ông cũng nói ông đã học được gì từ những cuộc trao đổi đó: “Trong một cuộc hội nghị ở Nam Mỹ, tôi đã gặp một nhà vật lý nguyên tử người Chi-lê. Ông ấy nói với tôi rằng, để có thể tìm hiểu được vật lý nguyên tử nói riêng hay khoa học nói chung, với tư cách một nhà khoa học, ông ấy phải tìm cách “thoát bỏ” khỏi khoa học để có góc nhìn rộng hơn. Ông ấy làm tôi giật mình. Phải chăng để tìm hiểu về Phật giáo, tôi cũng phải tìm cách “thoát bỏ” để có thể có một góc nhìn khác đối với Phật pháp”.

Vậy phải hiểu thế giới như thế nào? “Có quá nhiều thứ xấu xa đã xảy ra chỉ vì chúng ta luôn phân biệt “chúng nó” và “chúng ta”. Phân biệt giữa chủng tộc này với chủng tộc khác, dân tộc này với dân tộc khác, thậm chí gia đình này với gia đình khác, người này với người khác. Luôn luôn có một ranh giới giữa “chúng nó” và “chúng ta”, và điều này tạo ra tham ái, tham ái sẽ tạo ra sân hận, si mê. Chỉ khi nào mọi người hiểu rằng, nền tảng của con người nói chung, bất kể họ là “nó” hay “chúng ta”, là ham muốn hạnh phúc, và vì vậy, chỉ khi nhân loại hiểu rằng chỉ có một “chúng ta” thống nhất mà không có “nó”, và tất cả chúng ta đều liên quan tương hỗ với nhau trong khát vọng mưu cầu hạnh phúc, khi đó mới có thể có một thế giới hòa bình”

 Phật Giáo trong nghĩa bản thủy  của nó

 Trước khi tới Dharamsala, có người giải thích cho tôi vì sao thời gian vừa qua, bỗng dưng người Việt Nam đặc biệt quan tâm đến Mật tông Tây tạng. “Người Việt mình vốn vừa mê tín vừa lười biếng, nên khi nghe đồn Mật tông Tây tạng có nhiều chân ngôn, chú ngữ thì tin vào nó như tin vào những phép mầu, lại nghĩ rằng theo truyền thống Mật tông, các bậc thầy có thể truyền lại cho đệ tử những bí chú, các phép mầu (mà họ gọi một cách “hiện đại” là “năng lượng”) thông qua mật ngôn hoặc trì chú, vì thế không cần phải cố gắng gì, chỉ cần “có duyên” tìm ra được một bậc thầy rồi câu thông được với linh hồn của bậc  thầy đó là có thể có được những năng lượng đặc biệt, do đó họ mới thích thú với Mật tông Tây tạng như vậy”.

 Đức Đạt Lai Lạt Ma dường như thấy trước được điều đó, nên ông dành gần như toàn bộ thời gian Pháp thoại của chúng tôi để dẫn dắt mọi người quay lại với nguồn cội của Phật giáo. Ông cảnh báo “các bạn rồi sẽ gặp những vị Lạt Ma, những người hứa với các bạn chỉ cần bỏ ra vài chục ngàn đô các bạn sẽ đạt được tới sự giác ngộ. Hãy cảnh giác và sử dụng lý trí của mình. Hãy lựa chọn bậc thầy của mình. Thử nghĩ xem, bạn ra chợ mua một món đồ đắt tiền, bạn có xem xét cẩn thận không? Có kiếm tra nó không? Vậy tại sao với một thứ quan trọng như Phật pháp, các bạn lại không xem xét cho cẩn thận. Trong số 320 bộ sách của Tạng pháp, có 12 bộ nói về những đức tính cần có của bậc thầy. Hiện quán Trang Nghiêm Kinh đã liệt kê rất nhiều yêu cầu về bậc thầy, từ Từ, Hòa, Bi, Tuệ…vv nhưng Mật tông còn đòi hỏi cao hơn, yêu cầu cả về nội công đức và ngoại công đức của họ. Đối với Phật giáo, không có đường tắt! Phật giáo có thể tóm gọn trong hai từ Giáo-Chứng! Trước tiên, phải học (Giáo), sau đó, khảo nghiệm nó, thực hành nó để tìm ra huệ giác cho mình (Chứng)…Cũng giống như bước vào trường học, phải học qua các lớp, chúng ta phải học tập dần dần, từ Giới Học, tới Định Học và cuối cùng là Tuệ Học mới mong đạt được giác ngộ chân chính. Bước đầu tiên như Giới Học, chúng ta cũng có tới 227 giới để tu tập, chưa kể tới các bước kế tiếp…Đức Phật đã tìm ra con đường để giải thoát, nhưng ngài chỉ chỉ cho chúng ta thấy con đường đó và làm thế nào để đi đến đích, còn việc lựa chọn bước lên con đường đó và bước từng bước để đạt tới giác ngộ cuối cùng là hành động của các anh chị em…”

Vậy, phải học gì? Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu buổi Pháp thoại bằng giáo thuyết cho chúng tôi về “ngã” và ba câu hỏi quan trọng nhất của Phật giáo Mật Tông (“ngã là gì”? “có kết thúc của ngã hay không?”, “ngã có tồn tại độc lập với thể xác hay không?”). Ông cũng thuyết giảng về “luân hồi”, về thuyết Duyên khởi và mười hai nhân duyên, đặc biệt về “vô minh”, phân biệt giữa “vô minh do thiếu hiểu biết” và “vô minh do hiểu biết sai” (ông dùng chữ “distorted ignorance” mà các sư thầy dịch là “tà niệm”, nhưng tôi thấy không chính xác) và sự nguy hiểm của vô minh do hiểu biết sai. Hiểu biết sai là nguồn gốc của “tam độc”- tham, sân, si khiến con người bị chìm trong luân hồi, chịu đựng đau khổ của “nghiệp”. Ông giảng về tầm quan trọng của Tứ Diệu đế trong Chuyển luân kinh, giáo pháp đầu tiên Đức Phật thuyết giảng tại vườn Lộc Uyển sau khi ngài đạt Giác ngộ, Bát Chính Đạo và Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh, vừa giảng vừa ngâm nga câu cuối cùng của tâm kinh “tadyatha-gate gate paragate parasamgate bodhi svaha! (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ). Dường như ông hiểu được, đối với một “đại chúng” ô tạp như chúng tôi, tâm trí chứa đầy những thiên kiến của “vô mình do hiểu biết sai” thì cách tốt nhất là dẫn dắt chúng tôi trở về với điểm bắt đầu của Phật giáo. Cho nên, có thể đối với một số người, khoảng khắc Đức Đạt Lai Lạt Ma niệm và hướng dẫn chúng tôi niệm hai mươi mốt lần Lục Tự Đại Minh chân ngôn (Om Mani Padme Hum) là khoảng khắc xúc động nhất, nhưng với tôi, quan trọng hơn cả là lời giảng của ông về chân ngôn này. Ông nói, Om có nghĩa là Thân-Khẩu-Ý, Mani là ngọc quí, Padme là trí tuệ, Hum là kết hợp lại, cho nên Lục Tự Đại Minh chân ngôn có nghĩa là hãy dùng trí tuệ để kết hợp thân-khẩu-ý lại hoàn hảo để hiểu được tính Không, như một viên ngọc quí. Hiểu được tính Không, có nghĩa là sẽ hiểu được cách “đoạn vô minh”, từ đó đạt được sự giác ngộ

Tôi cứ tự hỏi, vì lẽ gì Đức Đạt Lai Lạt Ma phải mất hai ngày quí báu của ông để truyền thụ Phật pháp cho chúng tôi, hơn một trăm người phần lớn không phải Phật tử, phần lớn còn trong cõi vô minh? Phải chăng chúng tôi đã quá may mắn, hay đối với ông, không quan trọng là bao nhiêu người, ở đâu và khi nào, mà quan trọng là mầm thiện mà ông đã kiên nhẫn gieo vào lòng chúng tôi, khi chúng tôi thầm phát nguyện Bồ Đề tâm theo sự dẫn dắt của ông, bắt đầu bước bước chân đầu tiên trên con đường giác ngộ: “Với ước nguyện giải thoát cho toàn thể chúng sinh, con xin về nương dựa nơi Phật, Pháp cùng Tăng Già, cho đến khi giác ngộ. Hôm nay tâm hướng về Từ bi và Trí tuệ, đối trước đức Phật, con quyết vì thế giới hữu tình, nguyện phát tâm Bồ đề. Bao giờ không gian còn, hữu tình còn, nguyện con còn ở lại, xua tan khổ nạn cõi thế gian”

 

 

 

Thiet ke web gia re

Dich vu SEO


choi game, chơi game hành động, chơi game thể thao, chơi game thời trang, game đánh nhau, choi game dua xe, choi game, game bắn súng, game bóng đá, game nấu ăn, mẹo vặt, meo vat lam dep, sua binh nong lanh, xem phim hd, xem phim, truyen ma, doc truyen ma, truyện ma, doc truyen, truyen, sửa điều hòa, sửa máy giặt, sửa tivi lcd, sua tủ lạnh, sua dieu hoa, sua may giat, sua tivi lcd, sua tivi lcd, y8