DJ,Nhạc Sàn ,Nhac San

sua nha - sua nha ha noi

du lich cu lao cham


du lich nha trang

Một vài chia sẻ về tiếp thị xã hội (Social Marketing) sau hội nghị Toronto 2013.

May 06

Hội nghị Quốc tế về Tiếp thị xã hội lần thứ 3 năm 2013 được tổ chức ở Toronto, thành phố lớn nhất của Canada với hệ thống vận tải công cộng khổng lồ có quy mô chỉ đứng sau NewYork, bao gồm  tuyến đường cao tốc 401,là tuyến đường bận rộn nhất thế giới với kỷ lục 500.000 lượt xe qua lại trong 1 ngày và con phố Yonge nổi tiếng dài nhất thế giới, nghe nói đến 1896 km. Tất nhiên đã đến Toronto thì cũng không thể không nhắc đến  điểm du lịch nổi tiếng: thác khổng lồ Niagara hình móng ngựa nằm sát biên giới với bang New York, Mỹ.

Với sự tham dự của hơn 500 đại biểu là những người làm việc trong lĩnh vực tiếp thị xã hội từ hơn 40 quốc gia, hội nghị đã giành ngày đầu tiên để nói về những vấn đề cơ bản nhất của tiếp thị xã hội, bao gồm cả những định nghĩa  về tiếp thị xã hội. Mặc dù có đến 11 định nghĩ khác nhau về tiếp thị xã hội thì chúng ta cũng chỉ cần hiểu một cách gắn gọn, tiếp thị xã hội là những nỗ lực marketing nhằm thúc đẩy một bộ phận xã hội thực hiện một hành vi cụ thể nào đó. Khác với tiếp thị thương mại (commercial marketing) – vốn là những hoạt động với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận-  tiếp thị xã hội nhằm đến một mục đích khác, đó là mục đích vì một xã hội tốt đẹp hơn. Nó hướng con người đến việc thay đổi hành vi, bỏ đi những hành vi bất lợi, thay vào đó là những hành vi tích cực, có lợi cho bản thân và cộng đồng ví dụ như sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, không vượt đèn đỏ khi tham gia giao thông hay rửa tay bằng xà phòng … Vì đặc thù đó, có một cách khác để phân biệt tiếp thị xã hội với tiếp thị thương mại, đó là tiếp thị xã hội luôn đặt mục tiêu cuối cùng là thay đổi hành vi con người trong khi các hoạt động marketing thương mại không nhắm đến mục đích này.

Điều đáng chú ý là bản thân tiếp thị xã hội được chia làm 2 nhánh chính là thượng nguồn và hạ nguồn, trong đó phần thượng nguồn là nhằm tác động đến các cơ quan chính phủ, tranh thủ sự ủng hộ của cơ quan nhà nước để các cơ quan này ban hành những chính sách thích hợp nhằm khuyến khích hành vi cần vận động.  Tiếp thị xã hội một mình nó khó có thể làm thay đổi hành vi con người  mà cần có sự ảnh hưởng của luật pháp đi kèm và sự ủng hộ của các nhà làm chính sách sẽ góp phần rất quan trọng cho thành công của tiếp thị xã hội. Ví dụ ở Singapore,  mức phạt đầy tính nghiêm khắc của chính quyền đã đóng vai trò vô cùng lớn cho việc giữ Singapore là một thành phố sạch sẽ và an ninh. Tác động đến nhà làm chính sách là phần khó khăn khiến người làm tiếp thị xã hội có nhiều thách thức hơn đồng nghiệp ở mảng thương mại, nhất là tại các nước có hệ thống quan chức quan tâm đến lợi ích cá nhân hơn lợi ích cộng đồng –mà ngắn gọn gọi là tham nhũng. Còn phần hạ nguồn đương nhiên nói đến các hoạt động hướng đến nhóm mục tiêu, những người được mong đợi sẽ thay đổi hành vi vì lợi ích của chính họ và cộng đồng.

Có một thực tếl àm chạnh lòng người ta khi biết rằng tiếp thị xã hội lại phát triển mạnh mẽ nhất ở các xã hội phát triển cao như Mỹ, Canada, Anh, Úc hay Iceland. Việt Nam lần này có 6 đại diện tham dự và chúng tôi nhanh chóng nói chuyện rất cởi mở khi gặp nhau. Khi tôi bầy tỏ nỗi niềm “chạnh lòng” khi thấy phần lớn chi tiêu cho tiếp thi xã hội là ở tại chính các nước đã phát triển chứ không phải các nước nghèo, chị Josselyn Neukom, trưởng đại diện PSI Việt Nam đã không thể đồng ý hơn. Tôi hiểu được tâm trạng của chị, một người phụ nữ có thừa nhiệt huyết mong muốn tạo ra những thay đổi tích cực cho xã hội Việt Nam, nhất là để bảo vệ đối với những nhóm nguy cơ cao. Với chị, ngân sách gần 10 triệu Đô la 1 năm mà PSI Việt Nam nhận từ USAID với tư cách là đơn vị nhận ngân sách lớn nhất vẫn là quá nhỏ so với những gì cần làm tại Việt Nam với đầy rẫy vấn đền liên quan đến HIV, ma túy, mại dâm…Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng cơ quan viện trợ Hoa Kỳ  cũng đã làm việc rất tích cực để giành được khỏan hỗ trợ dù eo hẹp  cho Việt Nam, một quốc gia không nằm trong danh sách được ưu tiên trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Và thực tế là đa số các chương trình marketing xã hội tại Việt Nam đều được tài trợ bởi các tổ chức Quốc tế qua nguồn viện trợ chính phủ hoặc phi chính phủ.

Khi nói chuyện với những chuyên gia  mà đa số họ đến từ các công ty tư vấn chuyên về tiếp thị xã hội, tôi học được những điều thú vị về những việc họ làm. Ví dụ đối với Ice Land, đất nước nhỏ bé tưởng chừng đã có một trình độ phát triển xã hội rất cao  nhưng họ vẫn có những vấn đề riêng cần vận động thay đổi hành vi. Một trong số đó là thói quen đánh bắt cá của ngư dân. Các quốc gia Bắc Âu thỏa thuận về lượng cá và loại cá nhất định họ được đánh bắt hàng năm và chính phủ bỏ tiền để thực hiện các chương trình tiếp thị xã hội nhằm duy trì tính bền vững của nguồn lợi thủy sản. Họ cần vận động sao cho ngư dân sẽ chỉ đánh bắt đúng loại và số lượng cá họ được phép khai thác, bao gồm cả việc chấp nhận cắt lưới thả về biển nguyên mẻ cá nếu vô tình có 1 con cá heo bị mắc vào lưới. Muốn làm điều tương tự ở Việtnam chắc chắn sẽ vô cùng khó. Các vấn đề xã hội khác được tiếp thị nhiều tại Mỹ,Canada hay Úc có thể kể đến uống rượu và lái xe, hút thuốc lá, tiết kiệm nước hay các biện pháp tránh thai, chống lạm dụng tình dục. Thậm chí ở Sri Lanka còn có cả một chương trình tiếp thị xã hội nhằm giảm lượng đường người dân sử dụng trong đồ uống như trà hay cà phê để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nói chung, xã hội nào cũng có vấn đề cần giải quyết và đó là cơ hội các chuyên gia về tiếp thịx ã hội thể hiện khả năng, với điều kiện chính phủ có sự đầu tư  thích đáng. Tiếp thị xã hội thường chỉ được thực hiện bằng tiền ngân sách của chính phủ nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, không có nghĩa là khối tư nhân sẽ không làm tiếp thị xã hội.

Theo số liệu của một diễn giả đến từ Hoa Kỳ, có đến 90% những người hoạt động trong lĩnh vực tiếp thị xã hội không hề được đào tạo chuyên ngành marketing. Vì vậy về mặt chuyên môn, các chương trình tiếp thị xã hội thường không thực sự được thực hiện một cách bài bản có hệ thống như các chương trình tiếp thị thương mại. Trước khi tiếp thị xã hội được biết đến rộng rãi như bây giờ, người ta thường chỉ đơn giản thực hiện các chương trình Thông báo Dịch vụ Công – tạm dịch từ cụm từ Public Service Announcement (PSA). Đây thường là các thông báo liên quan đến một dịch vụ xã hội nào đó được nhà nước tài trợ và thường được các kênh  thông tin đại chúng tình nguyện phát miễn phí như một phần trách nhiệm xã hội của mình. Vấn đề của các chương trình PSA xét về chuyên ngành marketing là nó chỉ đơn giản thực hiện 1P  duy nhất: Promotion chứ không bao gồm cả 4P của marketing hỗn hợp. Điều đó thực sự là không đủ. Trong những bài phát biểu tại diễn dàn lần này, các nhà nghiên cứu marketinghàng đầu như Philip Kotler,  Jeff French ,Robert Lusch cũng như các các chuyên gia tư vấn nổi tiếng Jeff Jordan, NancyLee hay Jim Mintz đều khẳng định, tiếp thị xã hội cần hội tụ đủ 4P trongmarketing. Ngoài tính sáng tạo trong quảng bá (Promotion), các chương trình tiếpthị xã hội cần có sản phẩm (Product) rõ ràng. Sản phẩm chính là những lợi ích mà người ta nhận được khi thay đổi hành vi của mình. Giá cả (Price) chính là những gì họ phải từ bỏ khi thay đổi hành vi. Còn kênh phân phối (Place) chính là nhữngcơ sở vật chất và điều kiện trợ giúp để thực hiện hành vi mong đợi.

Một điểm thú vị nữa  là sau khi tổng kết từ thực tế, nhóm nghiên cứu từ đại học Woolonglong đã đặt vấn đề khái quát hóa cách tiếp cận xây dựng thương hiệu (branding) trong tiếp thị xã hội. Theo cách tiếp cận này, toàn bộ việc xây dựng chương trình tiếp thị xã hội sẽ được thực hiện theo quy trình xây dựng thương hiệu với những nghiên cứu liên quan đến đối thủ cạnh tranh (các chương trình tương tự), tâm lý khách hàng (đối tượng mục tiêu), từ đó xây dựng nên tên gọi, logo riêng của chương trình với đầy đủ tính cách thương hiệu, định vị thương hiệu, chiến lược sáng tạo phù hợp. Không ngạc nhiên là các trường đại học,với khả năng nghiên cứu hành vi nhóm đối tượng rất chuyên nghiệp, đã đóng góp mộtp hần rất quan trọng cho thành công của các chương trình tiếp thị xã hội. Hội nghị tỏ ra rất quan tâm đến nội dung trình bầy của nhóm nghiên cứu từ đại học RMIT Việt Nam do giáo sư Linda Brennan và giảng viên Lukas Parker thực hiện, lý giải về hành vi tham gia giao thông đầy hỗn loạn của thanh niên trong độ tuổi 18-30 tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh. RMIT Việt Nam cũng đang trong quá trình hoàn tất một nghiên cứu nữa về hành vi ra quyết định mua hàng tại các gia đình ở Việt Nam. Giáo sư Linda đã tỏ ra rất vui vẻ với đề xuất chia sẻ với Ogilvy các kết quả nghiên cứu của mình để được sử dụng như những thấu hiểu (insight) cho các chương trình tiếp thị xã hội và thương mại tại Việt Nam. Ngoài ra, hội nghi còn nghe rất nhiều tham luận chia sẻ kinh nghiệm của giáo sư nhiều trường đại học từ Anh, Úc, Mỹ về các chương trình tiếp thị xã hội mà họ đã và đang tham gia thực hiện.

Quay lại vấn đề về sự tham gia của khối tư nhân vào các hoạt động thay đổi hành vi, một công ty tư nhân sẽ thực hiện tiếp thị xã hội nếu nó có sự quan tâm tương đồng với một vấn đề của xã hội. Coca-Cola đã để lại ấn tượng lớn tại hội nghị với sự hiện diện của Phó chủ tịch Celeste Bottorff, người phụ trách chương trình “Living Well” của tập đoàn trên toàn cầu.  Chương trình nhằm khuyến khích thanh niên có lối sống tích cực hơn với hàng loạt hành vi liên quan đến lựa chọn chế độ dinh dưỡng phù hợp, tăng cường tập thể dục, tiết kiệm nước, sử dụng bao bì tái sinh…  Chị nói rằng triết lý củaCoca-Cola rất đơn giản: “Một xã hội với những cá nhân khỏe mạnh chính là thị trường bền vững nhất của Coca-Cola”.  Và để khẳng định sự quan tâm của Coca-Cola đến việc điều chỉnh hành vi, lối sống củax ã hội, vị Phó chủ tịch đã nói rằng tài sản lớn nhất của Coca-Cola không phải là nhà xưởng, máy móc mà chính là khả năng gây ảnh hưởng đến công chúng với niềm tin đã xây dựng được trong hơn 120 năm qua. Như vậy, giá trị thương hiệu đã được Coca-Cola sử dụng một cách có trách nhiệm và qua đó, càng nâng cao uy tín thương hiệu của mình trên thị trường.

Ở một số mặt trận, các chương trình tiếp thị xã hội có vẻ là kẻ đối đầu với tiệp thị thương mại. Cụ thể nhất là sự đối đầu với các nhà sản xuất rượu bia, thuốc lá hay sòng bạc vì rất nhiều tiền đã được chi ra để vận động chống lại việc sử dụng các sản phẩm, dịch vụ kể trên. Nhưng mặt khác, khá nhiều công ty sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ tiếp thị xã hội như các nhà sản xuất bao cao su, sản xuất xà phòng, các nông trại với sản phẩm sạch, các dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe… Phần thảo luận của Tom Beall, người đứng đầu bộ phận tiếp thi xã hội của Ogilvy Public Relations toàn cầu đã chỉ ra rằng để nhận được sự ủng hộ từ phía các công ty tư nhân đối với tiếp thị xã hội, không nên đơn thuần chỉ đặt vấn đề tài trợ mà nên để họ tham gia với vai trò đối tác với sự tham gia trực tiếp vào các hoạt động. Tại thời điểm này, không hề dễ dàng để thuyết phục một công ty tư nhân đầu tư ngân sách cho tiếp thị xã hội, mặc dù thay đổi một hành vi tích cực ở một nhóm cá thể quy mô nhỏ cũng đã xứng đáng được xã hội ghi nhận. Những dự án thành công có công ty tư nhân tham gia được mô tả bằng công thức win-win-win, với bên thứ ba được hưởng lợi chính là cộng đồng. Hy vọng trong thời gian tới, tiếp thị xã hội sẽ ngày càng nhận được sự quan tâm của cả công ty tư nhân và nhà nước tại Việt Nam và thu hút sự tham gia nhiều hơn nữa của các chuyên gia marketing.

Và cuối cùng, không thể không nhắc đến nỗ lực của Tom Beall và cộng sự của ông tại văn phòng Washington DC. Ông đã đóng vai trò lớn thúc đẩy Ogilvy Public Relations trở thành nhà tài trợ hội nghị và cá nhân ông đã gây được ấn tượng tốt khi làm chủ tọa điều hành nhiều cuộc thảo luận quan trọng của hội nghị.

Best tastes of the North of Vietnam

Apr 05

Proudly present the best tastes of the North Vietnam with the Singleton – the single best tasting single malt whisky. Enjoy and share the video to your friends to experience the best tastes of life!

Social media in Vietnam: the latest infographic

Feb 19

We are pleased to share with you the latest version of our social media wheel of platforms in Vietnam, improved from our 2011 version.

This year, mobile chat applications and online music sites have marked the latest spots in the wheel given their steady & rapid growth, along with a few new add-ins including Tumblr, Instagram & Pinterest. Social networks & forums, meanwhile, still account for the most crowded categories among all.

Version 3.0

Latest update: Feb 2013

Công dân 3G

Feb 04

Ra mắt vào tháng 11 năm 2012, sê-ri phim tài liệu “Công dân 3G” của Qualcomm hướng tới chia sẻ kiến thức cũng như sự am hiếu sâu sắc của mình đến cộng động người sử dụng 3G Việt Nam. Đây là sự “xâu chuỗi” của những câu chuyện độc lập của 8 cá nhân với các ngành nghề khác nhau, lứa tuổi khác nhau, hoàn cảnh khác nhau với sợi dây liên kết là 3G. Nó mang lại gì cho mỗi cá nhân, cuộc sống và công việc của họ? Một bà nội trợ bình thường, một nữ trí thức, một công dân trẻ tuổi… từ góc độ của mình, họ đã tận hưởng 3G như thế nào? Nhờ trải nghiệm và chia sẻ của những diễn viên, đạo diễn, giáo sư, nhiếp ảnh gia…sê-ri phim tài liệu của Qualcomm đã nhận được nhiều phản hồi tích cực cũng như thu hút được sự chú ý của  cộng đồng 3G tại Việt Nam.

 

 

Để xem các phim tài liệu công dân 3G, xin truy cập các link sau:

1. Justin Mott film:

Justin MOtt

2. Ha Anh:
HA Anh

3. Giao su Lan Dung:
Professor Lan Dung

4. MInh Truong:
MInh Truong

5. Doanh nhan Lan Anh:
Lan Anh

6. Duong Anh Xuan:
Duong Anh Xuan

7. Tai xe Van Hoang Minh
Van Hoang Minh

8. Yun Lukas
Yun Lukas

[daily read]: bài học đầu tuần

Dec 10

Đầu tuần đọc bài của cô Gemma, EVP và trưởng bộ phận Social@Ogilvy NYC chia sẻ trên PR Week . 3 điểm nhấn mạnh cô Gemma đưa ra:

1. Không còn nửa những ngày tháng những người làm truyền thông mạng xã hội tự vỗ ngực xưng tên là guru, trùm về social media. Nó đã trở thành một phần không thiếu của truyền thông cho thương hiệu , đã phát triển đủ lớn. Chính vì vậy không thể nào có một lý do hay cớ gì mà practitioners ẩu, sơ xuất, viết chiến lược kém hoặc những chương trình truyền thông MXH không đạt chuẩn được.

2. Người tiêu dùng hôm nay ngày càng thông minh và rất kén, thậm chí rất tự bảo vệ mình trước những thông tin truyền thông họ nhận được hằng ngày. Họ chỉ tin và nghe theo những lời khuyên hoặc thông điệp từ bạn, gia đình. Nội dung không liên quan đến họ hoặc họ không quan tâm sẽ không còn hiệu quả nữa, sẽ bị cho vào lãng quên.

3. ‘Đo lường kiểu mỳ ống ý’ nghĩa là ném vào tường xem coi có dính hay không, thói quen này là quá khứ. Thương hiệu và doanh nghiệp cần đo lường hiêu quả và phải liên kết chặt chẽ với những mục tiêu và kết quả kinh doanh của mình vì họ cần chứng minh được những giá trị đem lại của các chương trình, hoạt động truyền thông MXH. Có như vậy thì mới hỗ trợ được những quyết định có tính tương lai cho doanh nghiệp, và đặc biệt qua những thời gian khó khăn. Đội ngũ làm MXH phải chứng minh được giá trị của mình trong mọi thời điểm.

Xem thêm trọn vẹn bài viết tại: https://social.ogilvy.com/ hoặc PR Week

Reminder of valuable training

Nov 27

Valuable Facebook Marcom Training Available Now

As per previous communications, we are in partnership with Facebook and have access to a brand new training resource launched yesterday. Facebook StudioEdge is a series of short training modules designed for marketers to get deeper and deeper expertise using the platform for their marcom needs. This resource will grow over time and is a great companion to the Social@Ogilvy Belt Training System. We will be integrating the Facebook StudioEdge curriculum in future iterations of our belt levels. You can access the training now.

What Facebook Studio Edge Is

Studio Edge lives on the Facebook Studio website. It is lightweight, easy-to-use and modular. Each course should take only about 15 minutes to complete

Studio Edge was designed with agencies in mind, and its material is relevant to a wide range of agency audiences and disciplines.
Courses are grouped under three main product categories: Pages, Ads, and Technology. As you complete courses in any given category, you’ll move up in status from Novice to Intermediate, Advanced, and Expert. Talk to your manager, or refer to the attached guide, to prioritize which categories are the most relevant to your position.
Studio Edge will be updated continually as new products develop. As updates and new courses become available, you’ll be notified through the Facebook Studio site. You’ll want to keep up to speed on new courses to maintain the status you’ve earned.

The Economist predictions for 2013

Nov 27

In about 15 minutes (at 4pm HKT/SGT) I would ask you to stop working and log onto ogilvydo.com for a few minutes in order to watch a webcast and Tweet, Weibo, Plurk or Facebook what you find interesting.

The executive editor of The Economist, Daniel Franklin will give his predictions for 2013 in an interview with Andrew Thomas, head of Ogilvy PR, Singapore. The Economist hosts a similar-themed dinner each year in Hong Kong for which people pay $$$ to attend. You can get it for free, thanks to Ogilvy!

(Spoiler alert for predictions: Social media will be EVEN BIGGER and MORE FUN in 2013)

Hash tags are #Ogilvydo #2013Predictions.

Hầm dự trữ hay Thảo nguyên

Nov 26

Đây là phần đầu của bài viết có tên đầy đủ là Hầm dự trữ  hay thảo nguyên- “Sự thay đổi mối quan hệ giữa tiếp thị và quan hệ công chúng” (ngoài ra còn có tên là “cái chết của quan hệ báo chí”) do ông Miles Young, Tổng giám đốc của tập đoàn Ogilvy&Mather viết cho hội nghị những nhà lãnh đạo của tập đoàn này vào tháng 8 năm 2011 ở Praha

Quả thật, tôi là một người ngoại đạo.  Tôi không phải là người làm quan hệ công chúng.  Tôi không được đào tạo chính quy về lĩnh vực quan hệ công chúng. Tôi là người làm quảng cáo khi mới gia nhập Ogilvy & Mather và sau tám năm làm việc trong lĩnh vực quảng cáo, tôi chuyển sang lĩnh vực kinh doanh tiếp thị thương hiệu. Trong khoảng thời gian đó tôi thực sự quan tâm và nhận thức ngày càng sâu sắc niềm đam mê làm thế nào có thể kết nối và phối hợp làm việc với các chuyên viên của các chuyên ngành khác nhau để thực hiện tốt các chương trình. Một trong những chương trình đầu tiên mà OPR thực hiện là chiến dịch cho các công ty bảo hiểm của Anh hưởng ứng những thay đổi trong môi trường pháp lý của nước Anh. Bây giờ nghe có vẻ như đơn giản, nhưng trở lại vào những năm 1980, nó thực sự mang tính cách mạng. Sau đó, khi chuyển đến châu Á, được bổ nhiệm vào một số vị trí quản lý và cuối cùng trở thành nhà lãnh đạo cao nhất, tôi đã đảm nhiệm việc tổ chức và điều hành OPR cùng với các bộ phận kinh doanh khác của chúng tôi. Đặc biệt tôi đã và đang đảm nhiệm hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực quan hệ công chúng tại Trung Quốc.

Những gì bạn đang được nghe mô tả một cách quanh co chính là một mô hình kinh doanh mà ở đó có sự góp mặt của các loại hình truyền thông khác nhau: quan hệ công chúng, quảng cáo, tiếp thị và kích hoạt thương hiệu.

Chúng tôi gọi đó là truyền thông 360°, trong đó mỗi loại hình truyền thông tuy đứng độc lập với những chiến lược và mục tiêu riêng nhưng lại phục vụ một mục đích chung là giải quyết toàn diện các nhu cầu của khách hàng, không chỉ bó hẹp ở góc nhìn 45° hay 90°. Các yếu tố văn hóa và kênh truyền thông số được kết hợp dựa trên nền tảng cốt lõi là hoạt động hàng ngày của con người, tạo nên sự kết hợp mang tính chiến lược chứ không chỉ dừng lại ở mức phương thức thực hiện. 

Vào một số thời điểm ở giữa thế kỷ trước, quan hệ công chúng đã tồn tại trong bối cảnh như một “hầm dự trữ”, mặc dù khi mới hình thành nó không phải như vây. Các hầm dự trữ là nơi lương thực sau khi thu hoạch được cất giữ, rồi đóng chặt cửa cùng với những bức tường ảm đạm, tượng trưng cho sự cô lập với thế giới xung quanh. Trong khi những người sáng lập ra quan hệ công chúng hiện đại tại Hoa Kỳ, có đầu óc hiểu biêt sâu rộng, như ông Ledbetter Lee, có xu hướng  xóa bỏ khái niệm hầm dự trữ, báo hiệu những sự khác biệt hơn so với ngành quảng cáo. Các kỹ năng và hoạt động của họ là tiền đề cho những gì mà chúng ta gọi là quan hệ báo chí ngày hôm nay.  Nó đã từng là một mô hình được ứng dụng tốt trong ngành, nhưng theo tôi nhận thấy giờ nó đã chết, chết như động vật tuyệt chủng, chết như loài khủng long. Ba sức mạnh đã giết chết nó đó là xã hội hóa, phân khúc, và toàn cầu hóa. Sự nhận thức hoàn hảo đúng lúc của họ đã đưa đến những thành quả tuyệt vời hiện tại.  Sẽ còn tuyệt vời hơn nếu chúng ta được chuẩn bị để sẵn sàng mở các hầm dự trữ của mình.

 Trước tiên, tôi xin trình bầy về xã hội hóa. Tôi không cần phải chứng minh với các bạn bằng chứng về sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông xã hội. Các con số tuyệt đối đã chỉ cho mọi người thấy. Nếu truy cập vào trang Facebook, bạn sẽ thấy số lượng thành viên của Facebook tương đương với dân số của bao nhiêu quốc gia trên thế giới. Không gì ngạc nhiên khi 25% của các kết quả tìm kiếm cho 20 thương hiệu hàng đầu thế giới có kết nối đến nội dung do người dùng tạo ra. Truyền thông xã hội là công cụ tuyệt vời cho bất kỳ nhà tiếp thị thông thái nào: ghi nhận những con số và đưa ra các con số.

Kết quả là chúng ta thấy một hiện tượng mới xuất hiện – “những người lạ có kinh nghiệm.” Cụm từ này có vẻ rất kỳ cục vào thời điểm cách đây 5 năm. Ngày càng nhiều kênh tư vấn truyền thống bị suy giảm lòng tin. Hiện nay tại Mỹ, khoảng 34 đến 50% dân số tin tưởng “những người lạ có kinh nghiệm,” hoặc gọi cách khác là những lời khuyên đến từ những người tương tự mình trên mạng. Trung Quốc có cùng tỉ lệ % đó, và tại châu Âu cũng vậy.

 Tuy nhiên, sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông xã hội có ảnh hưởng sâu sắc hơn đối với những tập đoàn đã xây dựng nên những thương hiệu đó. Nói một cách đơn giản, truyền thông xã hội đã tác động đến mọi ngóc ngách của đời sống. Luồng gió của sự minh bạch đã thổi xuyên thấu mọi hành lang công ty với sức mạnh không thể nào chống cự lại. Tất nhiên, gần đây chúng ta đã thấy một số ví dụ của những nỗ lực kháng cự. Khi Toyota lần đầu tiên nhận được những bản báo cáo về các vụ tai nạn xảy ra ở Mỹ và những nhận định đáng tin cậy rằng chính lỗi bàn đạp phanh là nguyên nhân gây nên các vụ tai nạn, họ đã chậm đưa ra những phản ứng đầu tiên. Khi sự thật được sáng tỏ, công ty này dường như bị lên án đến mức phải bị loại bỏ. Bây giờ tôi không tin rằng đã có một âm mưu hãm hại nào: đúng hơn là, văn hóa và thể thức của một tổ chức có xung đột từng không bao giờ coi sự minh bạch như là một giá trị; và hàng trăm quyết định nhỏ được đưa ra cùng góp phần tạo nên bức tranh hành vi tổng thể của tổ chức đó. Họ đã học được bài học một cách đắt giá

Tin tốt là khi sự cố xảy ra, minh bạch có thể hóa giải nó. Minh bạch có sức mạnh cứu vãn. Ví dụ, Toyota sau một thời gian ngắn đã có thể tác động được những nhóm người ủng hộ trên Facebook ở Mỹ – những người cảm thấy sự chỉ trích bôi nhọ đã đi quá xa.

Khoảng 40 ngày sau vụ tràn dầu của BP ở Vịnh Mehico và khi cuộc khủng hoảng truyền thông chưa từng có trong lịch sử của hãng này đã nổ ra, nhóm Digital Influence của chúng tôi bắt đầu tham gia giải quyết. Chúng tôi có một đội trực 24/7 tại trung tâm chỉ huy ở Houston. Vai trò của họ là làm cho những cam kết BP đưa ra được minh bạch. Từ chỗ không sử dụng bất kỳ một phương tiện truyền thông xã hội nào, các trang YouTube, Twitter và Facebook nhanh chóng được tạo ra và thu hút một lượng lớn người theo dõi. Sự minh bạch được truyền tải một cách rõ ràng hàng ngày thông qua chiến dịch đồ họa thông tin và những bức ảnh chụp được đưa ra trên Flickr- hãy để thực tế tự nói lên tất cả

Có một khoảnh khắc “vui sướng” trong quá trình kiểm tra áp lực của vỏ giếng khoan. CNN tường thuật trực tiếp tình hình và nhầm lẫn khi nói rằng các đồng hồ đo áp suất trên màn hình là cái cần phải được theo dõi để đánh giá sự thành công hay thất bại của hoạt động này. Ngay lập tức, chúng tôi tập hợp các chuyên gia công nghệ của BP, soạn thảo những lời lẽ để làm rõ vấn đề và sau đó lên tiếng. Lời hiệu đính đạt được mục đích, một học giả lên sóng đài truyền hình và khẳng định rằng hiệu đính của chúng tôi là đúng. Mặc dù chỉ mới trong giai đoạn đầu của chiến dịch nhưng có dấu hiệu cho thấy rằng phương pháp tiếp cận minh bạch đã bắt đầu giúp đảo chiều dư luận tại Mỹ.

Yêu cầu đầu tiên của minh bạch là khả năng lắng nghe. Bạn thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào nó.

Bạn cần phải hiểu những gì mọi người đang nói. “Nghe bình luận” giúp bạn tập hợp được một loạt những gợi ý có thể thực hiện. Tuy nhiên, hiểu cách mọi người tìm kiếm thông tin cũng quan trọng như điều họ nói.

Chúng ta hãy coi những thông tin tìm kiếm như là khoảng không mới trên chiếc kệ. Dựa vào bất kỳ chuỗi từ khóa nào chúng ta cũng đều có thể biết “kệ tìm kiếm” được tạo nên như thế nào; nói cách khác, loại hình truyền thông nào có kết quả tìm kiếm giảm và giảm bao nhiêu % – trên các trang web mua sắm, video, hình ảnh, bách khoa toàn thư, tin tức, blog, tạp chí hay sách? Chúng ta cũng có thể hiểu những nội dung thành phần trong lượng tìm kiếm tại bất kỳ thể loại nào.

Sự thấu hiểu là điều kiện thiết yếu của bất kỳ chiến lược truyền thông xã hội nào. Hiện tại, nguyên tắc Pareto cũng áp dụng cho các phương tiện truyền thông xã hội. Nhờ nó, tôi đã phát triển công việc tiếp thị trực tiếp của mình với 20% số lượng người sử dụng mang lại 80% giá trị. Nhiệm vụ của chúng ta là gây ảnh hưởng đến những người có tầm ảnh hưởng nhất. Ví dụ, “một sơ đồ khái quát người ảnh hưởng” cho lĩnh vực chăm sóc da tại Mỹ có thể hiển thị sinh động tầm ảnh hưởng của các blogger thời trang, các trang web thể dục thể hình, các trang web về du lịch và nấu ăn…trong đó các blogger sắc đẹp chỉ là một phần. Hiện tại chúng chiếm 80%.

Sau đó, chúng ta cũng phải tìm kiếm sức ảnh hưởng tương xứng. Đây là hoạt động ở cấp cơ sở xã hội. Nó tạo ra một hình thức nghệ thuật hoàn toàn mới liên quan tới “Quản lý giao tiếp”. Sai phạm lớn nhất chính là hình thức “1 lần” – những trang Facebook hay những đoạn cập nhật trên Twitter.   Điều quan trọng là phải quản lý giao tiếp theo lịch. Thông qua giao tiếp, các nhà quản lý có thể đánh giá được cơ sở của nó. Bối cảnh giao tiếp phải thúc đẩy được mối quan hệ hàng ngày, mang lại những kinh nghiệm đáng chú ý và phải được duy trì qua thời gian.

Bạn có thể quan sát tất cả những điều này trong công việc hiện nay chúng tôi làm cho Ford. Gần đây, chúng tôi đã đưa ra một chiến lược truyền thông kỹ thuật số ở cấp doanh nghiệp nhằm chứng tỏ rằng “Ford là sự khác biệt”. Và chiến lược này đã giúp Ford tăng thị phần khi thế giới vẫn phải đối mặt với những tác động từ cuộc khủng hoảng ngành công nghiệp ô tô.

Khi giám đốc điều hành Alan Mulally tuyên bố ra mắt chiếc xe điện đầu tiên tại triển lãm điện tử tiêu dùng (CES) 2011, công ty Ford Motor biết sẽ không khó khăn để đưa tin. Tuy nhiên, các công ty ô tô khác ngày càng sử dụng CES để ra các thông cáo lớn nên Ford biết công ty cần phải đổi mới cách thức. Sau khi sử dụng Facebook thông báo về việc ra mắt, chúng tôi đã tổ chức chương trình truyền hình trực tuyến đổi mới công nghệ 24 giờ trên trang Facebook của Ford để thu hồi các ý kiến quan trọng. Các blogger từ khắp nơi trên thế giới đã tham gia cùng các giám đốc điều hành của Ford. Kết quả là, những phản hồi truyền thông xã hội cho Ford vượt quá 63% tương quan truyền thông của nhiều hãng ô tô lớn đang đưa tin tại CES. Khán giả tham gia chương trình trực tuyến cũng theo dõi với lượng thời gian gấp đôi, và Ford đã đạt được gần 50 triệu phản hồi ấn tượng truyền thông xã hội (CMI) bằng những nỗ lực truyền thông kỹ thuật số.

Tháng 2 năm 2011, Ford đã tổ chức họp mặt gần 20 nhân vật gồm nhà báo và các blogger có tầm ảnh hưởng lớn với truyền thông xã hội tại chương trình “Lái thử xe Focus Toàn cầu” ở INTA – Tây Ban Nha. Các blogger đã được mời tham gia vào chương trình làm video cá nhân,  trải nghiệm chiếc Ford Focus 2012 mới, và sau đó được khuyến khích làm tư liệu về các chuyến đi. Sau sự kiện này, các blogs đạt 5,3 triệu lượt khách, các videos do các blogger tạo ra có hơn 500.000 lượt xem và chương trình “Lái Thử Toàn Cầu” có hơn 12,3 triệu người theo dõi. Một điểm quan trọng khác: thế giới PR và bán hàng xã hội đang gắn kết với nhau. Chúng không thể hoạt động như các hầm chứa riêng rẽ

Nhưng ý tôi ở đây là: tất cả chúng ta HIỆN NAY đều có những cơ hội như vậy. Những cơ hội đó thúc đẩy chúng ta tạo ra một cộng đồng đích thực. Để thực hiện cái mà đã rất lâu chúng ta nói nhưng chưa làm được

Tôi nghĩ điều này là hiển nhiên nếu xã hội hóa đem lại sự minh bạch. Khi đó cộng đồng là “tiền lãi” của sự minh bạch đó

Tuy nhiên, một cộng đồng không thể được xây dựng một cách bừa bãi. Nó phải được xây dựng dựa trên chiến lược truyền thông kỹ thuật số. Thực tế cho thấy chúng ta phải”nhanh nhưng không vội vàng.” Việc thu thập các sáng kiến lỗi thời, các trang web bị lãng quên và các tài khoản vô chủ chỉ khiến cho thế giới mạng xã hội hỗn loạn hơn-giống như những mảnh vỡ của vệ tinh ngoài vũ trụ. Tôi muốn nói với các bạn rằng xã hội hóa là điều cốt lõi đối với một doanh nghiệp. Nếu bạn chấp nhận nó, tôi chắc chắn bạn sẽ thành công. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị doanh nghiệp. Ví dụ, hãy tưởng tượng đến một tổ chức có nhiều kênh phức tạp hoặc có thể có các đối tác được cấp phép. Cần phải triệt để áp dụng một cơ chế quản trị để quản lý những cuộc đối thoại chứ không phải là chỉ phớt lờ hay giả vờ quản lý chúng.  Ví dụ, nếu một khách hàng tìm cách liên hệ với nhà sản xuất nước giải khát thông qua người sản xuất vỏ chai cho thương hiệu, ai sẽ là người quản lý cuộc đối thoại và sẽ quản lý như thế nào? Chúng ta đang giải quyết vấn đề làm thế nào khái niệm “công chúng” trong quan hệ công chúng được luật hóa và được hỗ trợ. Trong thế giới mới, vai trò của quan hệ công chúng gắn liền với những vấn đề như vậy. Vai trò của nó là để giúp xã hội hóa doanh nghiệp.

Tương lai của truyền thông

Nov 23

Kunda và mình trên diễn đàn

Kunda Dixit là một nhà báo nổi tiếng của Nepal và là chủ nhà xuất bản Himalmedia, nhà xuất bản có uy tín rất cao về tính chuyên nghiệp và lòng tự trọng  ở Nepal. Nhà xuất bản này đã có vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh đòi tự do báo chí và dân chủ ở Nepal trong những năm gần đây. Sau khi nhận bằng cao học về báo chí tại trường tổng hợp Columbia, ông trở thành phóng viên thường trú của BBC World Services tại trụ sở Liên hợp quốc, sau đó làm việc cho  hãng thông tấn Inter Press Services dưới cương vị giám đốc phụ trách châu Á Thái Bình Dương ở Manila. Tại đó, ông đã tham gia vào việc đưa tin và biên tập nhiều tin bài  của khu vực thường  bị các hãng thông tấn lớn tảng lờ. Ông là tác giả của cuốn sách: “Nghề báo khi hành tinh là quan trọng”, được sử dụng ở các trường đại học báo chí trên toàn thế giới, hướng dẫn sinh viên viết một cách có ý nghĩa về các vấn đề môi trường và phát triển. Ông cũng đồng thời là giáo sư của trường đại học Katmandu, tham gia giảng dậy về báo chí và truyền thông.

 

 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TỪ CƠ SỞ

Đưa mắt nhìn khắp thế giới hôm nay, đâu đâu ta cũng thấy chỉ một nền văn hoá  đầy đơn điệu

Sở hữu về truyền thông giờ đây đang dần tập trung vào tay của một số ít người. Ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu  này coi con người như là những người tiêu dùng chứ không phải là các công dân. Nôi dung ngày càng mang tính giải trí, được đóng gói và bán như những những hộp thịt gà Mc Donald nhằm thu hút tối đa lượng độc giả trên toàn thế giới.

Những tiến bộ về công nghệ thông tin và truyền thông thúc đẩy nhanh hơn xu hướng này, nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Cách đây mười năm, chúng ta còn nghĩ rằng Internet sẽ giúp san bằng những cách biệt trên sân chơi này, mang lại tiếng nói cho những người vốn vô thanh, nhưng chẳng phải chờ đợi lâu, không gian ảo chẳng bao lâu sau cũng bị chi phối bởi chính những thực thể đã thống trị ngành truyền thông truyền thống. Trên thực tế, sự hội tụ của truyền hình, viễn thông và mạng máy tính đã khiến cho các chủ sở hữu trong ngành truyền thông liên kết với các ngành khác để tham gia vào cuộc chơi. Và như vậy, thay vì giảm đi sự cách biệt về công nghệ số hoá, cái hố ngăn cách lại bị khoét sâu thêm.

Chúng ta đã thật ngây thơ khi tin rằng Internet sẽ là một điều gì đó thật khác biệt, mang lại cho những cộng đồng bị lép vế một cơ hội được lên tiếng. Nhưng cái cơ chế thương mại chi phối Internet cũng chẳng khác gì so với cái mà nó đã thay thế. Dường như, để có thể thu hẹp khoảng cách công nghệ số, điều trước tiên chúng ta phải làm đó là giải quyết vấn đề phân biệt về giáo dục, sức khoẻ và thu nhập trong đất nước của chúng ta và trên toàn thế giới.

Đó là lý do tại sao, kể cả khi chúng ta có thể tìm được những thông tin có ý nghĩa trên Internet thì thông tin ấy cũng bị chìm lấp trong mớ hỗn độn thông tin rẻ tiền, những chuyện tầm phào. Những người tìm kiếm những thông tin liên quan và có ý nghĩa cho họ dần đổ dồn về các trang web tạo nên những cộng đồng ảo mà ở đó họ tìm được sự đồng thuận với nhau. Điều này  “ghét-tô” hoá họ, và Internet đã dựng lên những bức tường ngăn cách thay vì xây nên chiếc cầu nối những cộng đồng mong muốn được trao đổi với nhau.

Tất cả những cái đó đã tạo nên những tác động tiêu cực đối với tính đa dạng về văn hóa của loài người, đẩy nhanh hơn quá trình biến mất của nhiều thứ tiếng, lễ hội, bài hát, và các phong cách sống khác nhau. Một số lượng đông đảo người dân trên thế giới được tiếp cận với một thứ văn hoá tiêu dùng toàn cầu thông qua truyền thông đại chúng toàn cầu, chúng làm thay đổi thói quen ẩm thực của con người, quyết định những vấn đề như: xem gì, mặc gì, nói chuyện với ai và nói chuyện như thế nào…Và khi người ta ăn thứ ngũ cốc đã được chế biến thì những loại thức ăn bản xứ biến mất. Khi chúng biến mất thì những người nông dân trồng kê, trồng rau, và trồng lúa mỳ sẽ mất kế sinh nhai. Khi có những con tàu ra khơi đánh bắt cá bằng lưới quét tận đáy thì sẽ không còn đủ cá cho những ngư dân truyền thống nữa và họ sẽ di cư đến sống ở những khu ổ chuột ở các thành phố. Những ngư dân ở miền trung Philippines đã từng sử dụng mười lăm từ khác nhau để chỉ các loại gió thổi qua các hòn đảo của họ, nhưng khi họ không còn đi biển nữa thì những từ ấy cũng biến mất.

Ở Châu Á, chúng ta xem Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc như những đại diện tiêu biểu cho việc truyền thông hiện đại có thể tồn tại song song với bảo tồn văn hoá. Và một điều chắc chắn là bên dưới lớp vỏ bên ngoài của phong cách ăn mặc và ứng xử  âu hoá, báo chí đã giúp người dân những nước  này vừa quảng bá vừa bảo tồn nền văn hoá của họ.

Về điều này, Nam Á không được thành công cho lắm. Nội dung của truyền thông được cung cấp qua ngôn ngữ địa phương không luôn đồng nghĩa với việc nó bảo vệ các giá trị và văn hoá bản địa. Có những vở kịch dài kỳ bằng tiếng Hindi trong đó các tình tiết hầu như được copy lại y nguyên những seri phim truyền hình mang tính cải lương như: “Dallas”, “Bold and Beautiful”. Những chương trình này đều mang một vẻ như nhau, các sản phẩm được quảng cáo là tất cả những vật dụng tiêu dùng do các công ty đa quốc gia sản xuất. Hầu như không mấy ai nghĩ đến phong cách sống khác, không ai dám tán thành việc hạn chế tiêu dùng lãng phí để bảo vệ bầu sinh quyển của trái đất.

Kết quả là truyền thông toàn cầu đang trực tiếp và gián tiếp quảng bá cho một lối sống không bền vững mà sẽ không mang lại kết cục tốt đẹp nào trong tương lai. Người ta cứ sử dụng một mức tiêu thụ năng lượng giống như một gia đình Mỹ tiêu thụ, và đốt nguồn năng lượng hoá thạch như thể sẽ không có ngày mai. Nước Mỹ với dân số chỉ chiếm 2% dân số thế giới lại tiêu dùng đến 25% tài nguyên của thế giới. Ấn Độ, và Trung Quốc – với 25% dân số thế giới sẽ cần đến 2 quả đất nếu như công dân của các nước này sống theo kiểu Mỹ. Truyền thông định nghĩa cụm từ “giàu có” và “sung túc” theo nghĩa hẹp, không tính đến việc tiêu dùng mang lại những gì cho trái đất.

Cái cách để thay đổi xu hướng đó là làm cho mọi người nhận thức được những hành vi và hành động của họ có ảnh hưởng  như thế nào đến tự nhiên và con người. Liệu sự sung túc của họ có làm cho kẻ khác nghèo đi không? Truyền thông nên nói cho con người biết hậu quả của tất cả những gì họ mua sắm, sử dụng, hay tiêu thụ. Nhưng ngày nay, giới truyền thông lại không đặt ra những câu hỏi này, vì thế con người không nhận thức được. Và khía cạnh đáng lo ngại nhất có thể thấy trong các hoạt động chính trị. Truyền thông thuộc sự sở hữu và kiểm soát của ngành kinh doanh văn hóa toàn cầu không mang gì đến những giá trị phục vụ công cộng. Khi truyền hình, truyền thanh, và Internet được coi như một công cụ marketing thì không có sự khác nhau giữa việc bán một chiếc bánh hamburger với bán một tờ báo. Mục đích là nhằm tối đa hoá lượng độc giả sao cho sự hâm mộ của công chúng có thể chuyển thành lợi nhuận thương mại. Internet cũng đã rơi vào lối mòn này: làm thế nào để biến những cặp mắt dõi theo trang web thành những đồng đôla?

Các công dân bị chủ nghĩa thoát ly thực tế của truyền thông đại chúng biến thành lãnh đạm và mê tín. Khi tin tức được đưa ra, nó được coi như một môn thể thao thu hút nhiều khán giả và như một cuộc cãi lộn không ngớt giữa những câu chuyện của ngày hôm nay với những câu chuyện của ngày hôm qua. Truyền thông không có đủ thời gian mà cũng chẳng thể vượt ra ngoài chiến lược hành động của các hoạt động chính trị để phân tích, giảng giải những vấn đề giúp cho ai ai cũng hiểu được.

Trong một nền dân chủ, đây là một sai lầm tai hại. Nếu truyền thông không truyền tải thông tin và khách quan khuyến khích tranh luận về các vấn đề thì các chính sách không thể được xây dựng. Dân chủ cần sự tham gia của công chúng mà để có được sự tham gia của công chúng lại cần đến một môi trường truyền thông sôi động và đa chiều. Truyền thông là một phần thiết yếu của mạch phản hồi cho phép công dân và những nhà cầm quyền biết được cái gì đang diễn ra trong xã hội để từ đó đưa ra hành động hợp lý. Không có mạch phản hồi thì các quyết định đưa ra có thể sẽ sai lệch, nhầm lẫn, bị trì hoãn, hay bị bóp méo. Để có thể duy trì nền dân chủ, các kênh truyền thông phải thực sự trong sạch, sắc sảo và đáng tin cậy. Các chính phủ phải đối đãi ngành truyền thông khác hơn so với các ngành công nghiệp chế tạo khác, nó cần sự quan tâm sát sao hơn.

May thay, cũng có khá nhiều yếu tố chống lại khuynh hướng thương mại hoá cao độ của giới truyền thông đang lan rộng khắp thế giới. Tầng lớp những người bình dân, cộng đồng cư dân địa phương đang sử dụng mạng lưới truyền thông địa phương nhằm phát triển truyền thông theo chiều ngang để thông tin không chỉ mang tính giải trí mà còn có sức mạnh chiến đấu. Họ đang tìm lại những giá trị của dịch vụ công cộng cho phép sự tham gia của công chúng trong quá trình ra quyết định, khuyến khích công chúng tranh luận các vấn đề để họ có thể đánh giá được sự lựa chọn của họ, đồng thời cho phép các nhà lãnh đạo có thể tiếp xúc, tương tác với họ.

Ở nơi nào mà truyền thông cơ sở phát huy tác dụng vốn có của nó thì ở đó nền dân chủ mới được củng cố vững chắc và do đó đem đến sự phát triển. Ở nơi nào mà truyền thông không đầy đủ và không phù hợp thì ở đó thiếu đi nền dân chủ từ gốc rễ và sẽ không có được sự phát triển.

Ở Thái lan, Philippines và Indonesia, sự phát triển của truyền thanh cộng đồng đã trực tiếp mang đến tiếng nói cho các cộng đồng người dân sống ở vùng nông thôn và vì thế người dân ở đây được lắng nghe. Còn ở vùng nông thôn Ấn Độ, truyền thanh chịu sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ, rất kém phát triển và kém gắn bó. Tại đất nước của tôi, Nepal, chúng tôi đã được chứng kiến truyền thông cơ sở đã giúp các cộng đồng ở đây như thế nào để họ có thể có tiếng nói trong cuộc sống và có thể điều khiển được vận mệnh cuộc đời mình. Điều này đã làm thay đổi thái độ của họ: biến họ từ những người tin vào số mệnh, những người nông dân bị động trở thành những công dân nhạy bén về mặt chính trị, những người biết rất rõ và có yêu cầu về quyền lợi cho bản thân mình. Những sự kiện chính trị trong năm nay ở Nepal là kết quả trực tiếp của việc truyền thông tới dân chúng đã giúp có được những giá trị dân chủ từ gốc rễ như thế nào.

Khắp châu Á, việc chuyển giao quyền quyết định cho các cộng đồng địa phương cũng đang giúp thay đổi cách người ta ra quyết định, chủ yếu dựa vào việc sử dụng và chia sẻ tài nguyên thiên nhiên như thế nào. Cách đây hai mươi  năm, truyền thông quốc tế đã thổi phồng lên rằng nghèo đói đang buộc những người dân ở vùng núi Himalaya phải chặt phá rừng do đó gây ra xói mòn, sụt lở đất và lụt lội ở Ấn Độ, Bangladesh. Điều này phần nào đúng sự thật nhưng những gì mà truyền thông không đưa tin đó là dãy núi Himalaya Nepal ngày nay đang chứng kiến sự tái sinh của các khu rừng và độ bao phủ nhiều hơn 15% so với năm 1980. Điều này có được là nhờ cộng đồng cư dân địa phương đã được trao quyền tự quyết định bảo vệ và sử dụng nguồn rừng ở địa phương.

Không phải là một sự trùng hợp khi hai mô hình phát triển nông thôn khác của Nepal đã thành công nhờ vào những nỗ lực của các cộng đồng: cộng đồng cư dân sống ở rừng và cộng đồng của hệ thống truyền thanh. Cả hai cộng đồng này đã hỗ trợ lẫn nhau và cùng nhau giúp cộng động dân cư bên kia dãy Himalaya dành lại lòng tự trọng của mình và làm cho họ có được cảm giác độc lập hơn.

Suy cho cùng, đây là điều mà nền chính trị trong một chế độ dân chủ phải làm để nâng cao mức sống của người dân. Và đây cũng là nơi vai trò của một ngành truyền thông phi tập trung được phát huy cao độ. Truyền thông mang tính thương mại toàn cầu không phải là giải pháp, ngược lại, nó là một phần của vấn đề.

***

Nguyễn Thanh Sơn: Chiều qua, kênh truyền hình AXN của Nhật chiếu lại bộ phim Shattered Glass của hãng Lion Gate, bộ phim mà nhiều người nói, và tôi cũng đồng ý, là phải được chiếu cho toàn bộ các khoa báo chí của các trường đại học xem.

Kunda Dixit: Tôi nhớ rồi, đó có phải là bộ phim về phóng viên trẻ Steven Galss của tờ The New Republic, người đã dùng cách bịa ra một phần, hoặc toàn bộ các bài báo của mình để được nổi tiếng?

Nguyễn Thanh Sơn: Đúng vậy. Chúng ta có thể dùng ngay bộ phim đó để bắt đầu cho cuộc trao đổi của chúng ta. Cho dù Steven Glass không phải người đầu tiên, không phải người cuối cùng, nhưng phải chăng chúng ta đang có những vấn đề lớn về đạo đức của nghề báo? Sau gần ba mươi năm làm nghề báo, ông nghĩ nghề báo đã có những thay đổi nào, so với mười lăm năm trước, khi ông đang còn là phóng viên của BBC? Ông nói cái làm ông thất vọng nhất, đó là cách cư xử của giới truyền thông trong việc đưa tin về các cuộc xung đột. Ông đã nói, giới truyền thông làm cho các cuộc xung đột trở nên tệ hại hơn?

Kunda Dixit: Sau hơn mười lăm năm làm nghề báo, đưa tin về hàng loạt các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới, tôi quay trở về Nepal và đối mặt với một cuộc xung đột vũ trang ở ngay quê hương của mình. Có một sự khác biệt rất lớn trong việc bạn đưa tin về các cuộc chiến tranh “ở nơi khác” so với đưa tin về cuộc chiến tranh của chính bạn, trên chính Tổ quốc mình. Và tôi thấy mình cần phải định nghĩa lại nghề báo, định nghĩa lại cách truyền thông về các cuộc xung đột, định nghĩa lại trách nhiệm của phóng viên. Tại các trường báo chí phương Tây, họ dậy chúng tôi rằng giới truyền thông sống được là nhờ các cuộc xung đột, các cuộc chiến tranh, rằng đưa những tin tiêu cực là cách tồn tại của giới truyền thông, rằng phóng viên không được can thiệp vào các sự kiện, mà chỉ là “người quan sát”, “người đưa tin”. Còn nếu như phóng viên đưa tin về những thoả hiệp, đưa tin về những giải pháp- đó không phải là “tin”. Và như thế, truyền thông về các cuộc chiến tranh hay xung đột không phải là một giải pháp, mà chính nó trở thành một phần của vấn đề.

Nguyễn Thanh Sơn: Vâng, người ta đã đánh dấu hỏi về đạo đức của nghề báo khi phóng viên chụp ảnh một con chim kền kền đang rình mò một đứa trẻ châu Phi sắp chết đói. Nhưng như vậy có nghĩa là giới truyền thông phải lựa chọn vị trí mình đứng, và như vậy thì không còn có thông tin khách quan nữa?

Kunda Dixit: Martin Bell, một cựu phóng viên của BBC, đã đưa ra một quan niệm mới nói về một nghề báo, một “nghề báo của sự gắn bó”, tức là một nghề báo phải quan tâm nhiều như biết. Là phóng viên thường trú tại Sarajevo trong 43 tháng của cuộc chiến tranh, ông mạnh mẽ đòi hỏi phóng viên báo chí phải lựa chọn chỗ đứng của họ, chỗ đứng bên cạnh lẽ phải và sự công bằng.

Nguyễn Thanh Sơn: Chiến tranh Iraq có lẽ là một ví dụ tốt, nếu như chúng ta so sánh cái cách báo chí đưa tin về chiến tranh Iraq so với chiến tranh Việt nam. Trong chiến tranh Việt nam, giới truyền thông đã làm được việc mà như người ta nói, “đưa cuộc chiến tranh vào phòng ngủ của nước Mỹ”. Rất nhiều phóng viên đã đưa tin về chiến tranh nhìn từ góc độ của những nạn nhân của chiến tranh, và ngay khi đưa tin dưới cái nhìn của những người lính Mỹ thì cũng đưa tin dưới những góc độ khác nhau, trong đó có góc độ của những nạn nhân. Chứ còn cái cách giới truyền thông đưa tin về chiến tranh Iraq thì…

Kunda Dixit: Chúng ta phải nói cụ thể là giới truyền thông Mỹ. Chính phủ Mỹ đã học được rất nhiều từ cuộc chiến tranh Việt nam, họ hiểu rằng, trước khi thua trong cuộc chiến thực sự, thì từ lâu họ đã thua trong cuộc chiến truyền thông. Và vì thế họ đã chuẩn bị rất cẩn thận cho những cuộc chiến tranh hoặc xung đột sau này. Hãy xem từ Grenada, Panama, chiến tranh Iraq lần thứ nhất cho đến chiến tranh Iraq lần thứ hai, giới truyền thông Mỹ đã chỉ đưa những thông tin mà chính phủ Mỹ và bộ Quốc phòng Mỹ muốn đưa, đặc biệt là truyền hình. Nếu cứ tin theo những hình ảnh của truyền hình Mỹ, thì đây là những cuộc chiến tranh không có đổ máu. Chúng ta không thấy những hình ảnh máu me, chết chóc trên truyền hình, không thấy các nạn nhân, không thấy dân thường. Tất cả những gì mà chúng ta thấy là hình ảnh của các loại vũ khí thông minh, những quả bom được lái và định hướng, ánh laser và chớp sáng của những vụ nổ. Người ta cho chúng ta thấy một cuộc chiến tranh như một trò chơi video. Và điều kinh khủng nhất là giới truyền thông tham gia vào việc trở thành một công cụ của chiến tranh một cách tự nguyện. Tất nhiên dưới ảnh hưởng của vụ 11/9, người Mỹ đang có nhu cầu được đấm vỡ mũi một địch thủ nào đó, nhưng truyền hình Mỹ đã hoàn toàn mất đi tính độc lập và khách quan của nghề báo, và điều đó thật đau buồn. Tôi không chỉ nói về Fox News, nhưng cái chính là Fox News đã kéo theo cả cái cách mà CNN đưa tin về cuộc chiến tranh Iraq.

Nguyễn Thanh Sơn: Ông nói là ông có hai điều thất vọng về giới truyền thông ?

Kunda Dixit: Vâng, điều thất vọng thứ hai là Internet. Internet đã không làm được cái mà người ta tưởng nó có thể làm được: làm cho thế giới trở thành một ngôi nhà chung, làm cho con người và các dân tộc gần gũi với nhau hơn.

Nguyễn Thanh Sơn: Trong bài viết của mình, ông có nói đến việc thay vì xoá bỏ các rào cản giữa các cộng đồng, Internet lại “ghét-tô” hoá con người, và người ta chỉ đọc những gì người ta muốn đọc, chỉ tham gia vào các cộng đồng ảo đồng chủ kiến với họ, tóm lại là dựng nên các hàng rào thay vì xoá đi các hàng rào. Đó là một cái nhìn rất đáng quan tâm, nhưng liệu có bi quan quá không? Internet, dù sao đi chăng nữa, cũng tạo điều kiện cho những người chưa bao giờ được lắng nghe có quyền lên tiếng. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển…

Kunda Dixit: Không phủ nhận Internet đã làm được rất nhiều việc, nhưng tôi không chịu được chuyện có rất nhiều người coi Internet là một cây đũa thần kỳ có thể giải quyết được tất cả mọi việc. Internet là hình ảnh phản ánh thế giới của chúng ta đang sống, với tất cả những chia rẽ về chủng tộc, tôn giáo, chính trị, quốc gia. Người ta đã từng kỳ vọng truyền hình vệ tinh có thể đem các quốc gia tiến gần đến với nhau hơn, nhưng nó không làm được điều đó. Internet cũng vậy, nó không bắc được những cây cầu giữa các dân tộc như nhiều người lầm tưởng.

Nguyễn Thanh Sơn: Vậy vấn đề của Internet ở những nước đang phát triển ở châu Á là gì?

Kunda Dixit: Có hai vấn đề, một là khả năng tiếp cận, và thứ hai là chi phí. Khi chúng ta nói đến khả năng tiếp cận, chúng ta nói đến ngôn ngữ. Mặc dù nội dung tiếng Anh trên mạng đã giảm từ 95% xuống khoảng 75%, ngôn ngữ tiếng Anh của các nội dung trên mạng vẫn là một rào cản lớn đối với những người mà ngôn ngữ tiếng Anh không phải ngôn ngữ mẹ đẻ, kể cả ở những nước mà tiếng Anh rất phổ biến như Nepal. Chi phí cho một người sử dụng Internet có thể không phải là lớn đối với tầng lớp trung lưu châu Á, nhưng đừng quên là có biết bao nhiêu người dân châu Á sống dưới, hoặc ngang bằng với mức nghèo khổ. Đối với họ, khoản tiền để mua máy tính, phí điện thoại, hay thậm chí ra quán cà phê Internet cũng là một khoản tiền không nhỏ. Và như vậy, Internet lại đào sâu “khoảng cách số” giữa các tầng lớp trong xã hội. Ý kiến của tôi là, một khi anh chưa tận dụng hết mức các phương tiện truyền thông truyền thống, thì cũng đừng mong gì anh tận dụng được Internet trong việc đem thông tin và kiến thức đến cho quần chúng lao động. Hãy cứ lấy một ví dụ như đài truyền thanh chẳng hạn. Ở một đất nước đồi núi như Nepal, đài truyền thanh là một phương tiện cực kỳ hữu hiệu cho quần chúng, và chúng tôi đã tận dụng rất tốt phương tiện này. Vấn đề là chúng tôi đã “địa phương hoá” các chương trình truyền thanh, giảm việc phát các chương trình quốc gia để tập trung vào các chương trình địa phương. Thông qua đài truyền thanh FM địa phương, người dân có điều kiện nói lên tiếng nói của mình, vấn đề của mình, thu nhận thông tin trên thế giới- với một chi phí rất rẻ. Tôi là người ủng hộ đài truyền thanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

Nguyễn Thanh Sơn: Chúng ta đã nói nhiều đến công cụ truyền thông, vậy còn nội dung truyền thông thì sao?

Kunda Dixit: Vâng, anh cũng thấy về nội dung, trên Internet có quá nhiều thứ rác rưởi, và lượng rác trên Internet càng ngày càng khổng lồ. Thời gian để con người tìm ra một thứ đáng đọc càng ngày càng nhiều lên. Vai trò của các công cụ tìm kiếm với bộ lọc thông minh sẽ càng được đề cao. Internet, trong khi trao quyền tự do cho con người phát biểu ý kiến, thì lại không góp phần xây dựng được ý thức của người viết, để họ hiểu rằng tự do của anh có giới hạn trong mối tương quan với tự do của người khác, cho nên, nó mở đường cho chủ nghĩa cực đoan trên Internet, với rất rất nhiều những thảo luận, tranh luận cực đoan. Internet là hình bóng phản ánh sự chia rẽ của chúng ta.

Nguyễn Thanh Sơn: Với sự đóng cửa của một số tạp chí và báo lớn như Far Eastern Economics Review hay Asia Wall Street Journal (và một số tạp chí danh tiếng khác cũng gặp phải những khó khăn về tài chính), ông có nghĩ là báo chí nghiêm túc đã thua trong cuộc cạnh tranh với báo chí thuộc, như ông gọi, một nền văn hoá tiêu dùng toàn cầu? Là chủ bút kiêm nhà xuất bản của Nepali Times, ông đã đối mặt với cuộc cạnh tranh đó như thế nào?

Kunda Dexit: Tôi nghĩ các tạp chí như FEER và AWSJ đã thua vì Internet. Độc giả ngày nay khó lòng chờ đợi một khoảng thời gian dài chỉ để đọc các bài báo nghiêm túc, bình luận các vấn đề lớn. Họ cần ngay bây giờ, ngay ở đây, và Internet cho họ khả năng đó. Tôi không nghĩ là báo giấy đã đến lúc cáo chung, vẫn còn những độc giả muốn đọc một tờ báo ở bất cứ đâu, cho nên khả năng linh hoạt của báo giấy vẫn là một lợi thế của nó, nhưng độc giả của nó càng ngày càng thu hẹp lại. Một ấn phẩm báo điện tử sẽ thất bại nếu nó chỉ là bản điện tử của một tờ báo giấy. Một tờ báo điện tử phải được tăng cường các dịch vụ giá trị gia tăng và khả năng tương tác, ví dụ như sử dụng truyền thông đa phương tiện, liên kết với các blog, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với tác giả, tạo điều kiện cho độc giả tương tác với nhau…vv. Như các trang điện tử của BBC hay đặc biệt là Gurdian Unlimited chẳng hạn, họ đã làm rất tốt chuyện đó. Đó cũng là hướng đi với tờ Nepali Times của chúng tôi.

Nguyễn Thanh Sơn: Nếu như có một dự đoán cho tương lai của truyền thông châu Á?

Kunda Dexit: Tôi nhấn mạnh vai trò của truyền thông cho quần chúng ở địa phương, và vai trò “địa phương hoá” nội dung, cho dù chúng ta dùng công cụ truyền thông gì, đài truyền thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử hay Internet

Nguyễn Thanh Sơn: Cám ơn ông.

Cái chết của Báo chí

Nov 22

Adrian Monck: báo chí truyền thống đã chết

“Quan hệ báo chí theo kiểu cũ đã chết”- ông Miles Young, Tổng giám đốc của tập đoàn truyền thông tiếp thị Ogilvy viết trong bài phát biểu của ông tại hội nghị những nhà lãnh đạo của tập đoàn này ở Praha.

“Báo chí truyền thống đang chết, hoặc thực ra đã chết rồi”- Adrian Monck giám đốc phụ trách báo chí và truyền thông cho Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói tại hội nghị những nhà kiến tạo toàn cầu (Global Shapers) của Diễn đàn Kinh tế thế giới tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ. Là cựu trưởng khoa báo chí của trường đại học City Of London University, ông Monck có một sự nghiệp báo chí lừng lẫy.  Bắt đầu từ phóng viên tin tức của hãng CBS News vào năm 1987, ông đã theo dõi và tường thuật  các vụ khủng hoảng con tin ở Li-băng, chiến tranh Iran-Iraq, việc trả tự do cho Nelson Mandela, sự sụp đổ của nhà nước Liên Xô và bức tường Berlin cho đến chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, sau đó ông còn là phóng viên của ITN với các phóng sự về  chiến tranh từ Belfast tới Bosnia,  phóng viên truyền hình của Five News với chiến tranh ở Kosovo, Afghanistan, Irag.

“Báo chí, xét cho cùng, là ngành sản xuất kiến thức thông qua từ ngữ và những con số”-ông Monck nói. Toàn bộ thói quen tiêu dùng về truyền thông của chúng ta ngày nay đã thay đổi. Báo chí không còn độc quyền tin tức, không còn tạo dựng thương hiệu cho tin tức. Tin tức ngày nay chỉ còn là hàng hóa phổ thông, được trao đổi miễn phí giữa các cộng đồng trôi nổi trên mạng Internet. Người ta có thể có được tin tức toàn cầu dù họ ở bất cứ đâu trên thế giới. Công nghệ và cách tổ chức thông tin hiện tại đã dày xéo ảo tưởng của các tờ báo và tạp chí về sự cần thiết của các phân tích chuyên sâu, những góc nhìn thông minh, những đánh giá sắc sảo của các nhà báo- ngày nay, người tiêu dùng thông tin tự trao cho mình quyền lực đó. Với các phương pháp tra cứu tức thời và thói quen chia sẻ trên mạng, người đọc sẽ tự quyết định cho mình góc nhìn, phân tích và đánh giá- thứ trước kia họ bị lệ thuộc vào các phóng viên hay chuyên gia. Ngôn ngữ, rào cản cuối cùng cho việc tiếp xúc với thông tin toàn cầu, hiện nay cũng đang dần dần được giải quyết. Rick Rashid, Giám đốc Nghiên cứu của Microsoft Research, ngày 28 tháng 10 vừa qua đã trình diễn một cách hết sức thuyết phục cách thức máy tính tiến hành dịch nói một ngôn ngữ phức tạp như tiếng Hoa sang tiếng Anh- các phần mềm dịch thuật tự động sẽ càng ngày càng được hoàn thiện.

Báo chí, không thể không lưu ý, cũng tự đào mồ chôn mình bằng việc cho rằng, Internet cũng chỉ là một nền tảng mới cho xuất bản báo chí. Bằng chứng là họ đã rất sớm có ý thức xây dựng nên các tờ báo mạng, nhưng như ông Jack Shafer, phụ trách mục Ý kiến trên trang Reuters.com nói “ cho dù đón nhận sự phát triển của Internet rất sớm, cho dù bỏ hàng triệu đô la cho nhân lực và phần cứng, bất kể hàng đống video, đường dẫn, ngân hàng dữ liệu, các phần mềm thông minh…người đọc dễ dàng nhận ra các tờ báo mạng thực ra chỉ là phiên bản mạng của các tờ báo giấy”. Họ không hiểu được rằng, tổ chức thông tin trên mạng Internet và cách người tiêu dùng ngày nay sử dụng các thông tin đó hoàn toàn khác biệt với cách tiêu dùng thông tin truyền thống.

Vậy còn vai trò của chính phủ thì sao? Ông Adrian nhún vai “ đối với báo chí độc lập truyền thống, chính phủ còn làm cho bức tranh tồi tệ thêm. Hãy xem cái cách họ đổ tiền cho truyền hình và các trang mạng của BBC hay France 24. Trong tình hình kinh tế hiện nay, làm sao báo chí truyền thống có thể cạnh tranh với các chính phủ?”

Và đó chính là những lý do tại sao kết cục của báo chí độc lập truyền thống sẽ thật bi thảm…

Thiet ke web gia re

Dich vu SEO